Căn bản nhất, chế độ quân phiệt Miến Ðiện không chỉ có hại cho dân Miến và có lợi cho Bắc Kinh. Nó còn đảo lộn an ninh Ðông Nam Á và đe dọa quyền lợi của cường quốc nằm bên kia Vịnh Bengal, là Ấn Ðộ.

Hùng Tâm

Nguồn: Nguoiviet online

.

Miến Ðiện và ngã ba Ấn-Hoa-Anh

Bà Aung San Suu Kyi, biểu tượng dân chủ của Miến Điện. (Hình: Paula Bronstein /Getty Images)

Người Việt thường nghĩ Việt Nam là bao lơn của Ðông Nam Á trông ra Thái Bình Dương và là một bán đảo nằm giữa hai nền văn minh cổ đại của Châu Á là Trung Hoa và Ấn Ðộ. Ðã có thời mà bán đảo này được gọi là Indo-China (Ấn-Hoa) để ghi dấu sự kiện ấy. Khi dịch chữ Indochina hay Indochine của Âu Châu ra Ðông Dương, chúng ta phần nào làm mất đặc tính này và thật ra đã quên dần yếu tố Ấn Ðộ trong di sản văn hóa của mình vì ảnh hưởng quá lớn của Trung Hoa.

Nhưng nếu nhìn theo giác độ cả địa dư lẫn văn hóa và chính trị thì Miến Ðiện, cường quốc khác của Ðông Nam Á, mới thật sự là vùng giao lưu giữa Trung Hoa và Ấn Ðộ. Khi xứ này bắt đầu chuyển hóa như người ta thấy từ năm 2010 thì cục diện Ðông Nam Á đang chuyển động.

Về địa dư, Miến Ðiện là bao lơn trông xuống Vịnh Bengal và biển Andaman, khu vực tiếp nhận ảnh hưởng song hành của cả Trung Quốc và Ấn Ðộ. Khi nhà Nguyên Mông khuất phục Miến Ðiện (thế kỷ 13, đời Trần của nước ta), xứ nay trôi vào quỹ đạo Trung Hoa và chỉ được chia cách bởi rặng núi Hoành Ðoạn.

Trung Quốc có cả một khu vực rộng lớn nằm kẹt trong đất liền và các tỉnh từ Tứ Xuyên đến Vân Nam mà muốn thông thương ra biển thì phải dùng ngả Miến Ðiện. Yếu tố địa dư đó cũng là thời sự ngày nay.

Vì địa dư hình thể cũng là tài nguyên thiên nhiên bên dưới, Miến Ðiện có dầu thô khí đốt, có than đá và khoáng sản gốc kim loại (thiếc, đồng), lâm sản và tiềm năng lớn về thủy điện – dùng sức nước biến ra điện. Có diện tích gấp đôi Việt Nam (676 ngàn so với 331 ngàn cây số vuông) mà lại giàu tài nguyên thiên nhiên, Miến Ðiện là quốc gia có tiềm lực hơn Việt Nam và thực tế thì từ lâu đã giàu hơn Việt Nam. Nhưng trong khi nước ta bị chiến tranh thì họ bị nạn độc tài.

Người Việt ta ít chú ý đến sự kiện là trước và sau khi là thuộc địa của Ðế quốc Anh, Miến Ðiện là nơi sinh hoạt của thương nhân Ấn Ðộ. Anh khuyến khích “Ấn hóa” Miến Ðiện trong mục tiêu bảo vệ quyền lợi của đế quốc tại Ấn. Nhân đây, Hồ Sơ Người-Việt xin ghi thêm là có một thời khá lâu mà chúng ta quên mất rằng nếu người Hoa có ảnh hưởng trong hệ thống phân phối lúa gạo thì người Ấn cũng chi phối hệ thống tiền tệ và chuyển ngân tại miền Nam.

Trước khi bị Mông Cổ khuất phục sau hơn 30 năm chinh chiến (1277-1301), trong bốn thế kỷ Miến Ðiện từng là đế quốc hùng mạnh tại Ðông Nam Á, ngang ngửa Ðế quốc Khờme và hơn hẳn Xiêm La (Thái Lan) hoặc Ðại Việt, khi ấy mới chỉ bằng phân nửa Việt Nam hiện nay. Sau này, Miến Ðiện vẫn muốn tìm lại ngôi vị cũ trong lịch sử.

Thế rồi, vì mục tiêu cai trị từ 1886 đến 1948, Ðế quốc Anh áp dụng một chính sách chủng tộc đặc biệt: sắc dân Miến được trao thẩm quyền hành chánh chính trị, chia sẻ sinh hoạt kinh tế với dân Ấn, còn các sắc tộc thiểu số ở khu vực ngoại vi hiểm trở của lãnh thổ thì nhận trách nhiệm về an ninh và quân sự. Người Miến không được vào quân đội.

Chuyện ấy có thể giải thích chứ không biện bạch cho chế độ quân phiệt sau này.

Sau khi giành lại độc lập nhờ sự sa sút kiệt quệ của Ðế quốc Anh trong Thế Chiến II, Miến Ðiện ra khỏi khối Thịnh Vượng Chung của Anh và xây dựng một nước dân chủ, đa nguyên theo khuynh hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ðấy là lúc mà nhân vật U Thant đã làm tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Nhưng sau đó, kể từ 1962, dưới sự chỉ huy của Tướng Ne Win, các tướng lãnh đã đảo chính và lập ra một chế độ độc tài quân phiệt – từ 1962 đến 2011.

Ðộc tài là ngả theo Trung Quốc

Gần nửa thế kỷ nằm dưới ách độc tài quân phiệt, Miến Ðiện trôi vào quỹ đạo Trung Quốc.

Bắc Kinh thúc đẩy tiến trình đó khi cắt hẳn việc yểm trợ các tổ chức phiến loạn cộng sản theo xu hướng cực đoan của Mao Trạch Ðông và bình thường hóa quan hệ với chế độ quân phiệt Miến. Việc bành trướng đó còn được một lợi thế khác là từ năm 1988, Hoa Kỳ đoạn giao với Miến Ðiện. Bị cô lập hóa, chế độ quân phiệt Miến càng phải nương tựa vào Trung Quốc.

Lãnh đạo Bắc Kinh nhìn ra hai mối lợi từ Miến Ðiện.

Về tài nguyên thì Miến sẽ bổ sung cho sự khan hiếm nguyên nhiên vật liệu của Trung Quốc. Về địa dư chiến lược thì Miến có thể giúp Bắc Kinh mở vòng giao kết với Trung Ðông, từ Vịnh Ba Tư rồi Pakistan qua Ấn Ðộ Dương, Vịnh Bengal đến eo biển Malacca trổ qua Ðông Hải, miền Tây Thái Bình Dương.

Khi thực hiện chiến lược bành trướng, Trung Quốc có nhiều dự án xây dựng hạ tầng, khai thác tài nguyên và thủy điện, và tạo cơ hội khai thông việc chuyển vận từ Vân Nam rồi Tứ Xuyên qua Vịnh Bengal. Song song, Bắc Kinh cũng mở ảnh hưởng vào địa dư và an ninh Miến qua các sắc tộc thiểu số sống trong khu vực núi rừng giao tiếp với Trung Quốc.

Bắc Kinh vừa mua chuộc các sắc tộc này và vừa dùng nhu cầu ổn định Miến Ðiện làm lợi thế thuyết phục các tướng. Nếu chế độ quân phiệt Miến mà do dự và đòi mặc cả với Bắc Kinh thì các lực lượng võ trang của dân thiếu số như Karen hay Kachin có thể gây khó khăn.

Chiến lược Bắc Kinh là biến thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam thành thủ đô kinh tế của khu vực Ðông Nam Á, nơi mà hệ thống hỏa xa và thủy vận từ Miến Ðiện qua Lào và cả Việt Nam sẽ nằm trong vòng quản trị và kiếm soát của Trung Quốc. Chuyện ấy không là dự đoán, dự án hay dự phóng mà đã đi vào thực tế: tại đảo Ramree của Miến, Bắc Kinh đã lập mạng lưới dẫn dầu và khí đốt từ Phi Châu, Vịnh Ba Tư và Vịnh Bengal vào thẳng Côn Minh để khỏi phải vòng qua Eo biển Malacca, vừa dài vừa tốn mà lại do Hoa Kỳ kiểm soát.

Vì 80% lượng dầu khí nhập vào Trung Quốc là phải qua Eo biển Malacca, Miến Ðiện là giải pháp tiết kiệm và an toàn hơn cho Bắc Kinh. Ðấy cũng là lý do khiến Trung Quốc mở ra hệ thống xe lửa cao tốc xuyên qua đỉnh núi tại Pakistan và dưới vùng bình nguyên của Miến.

Khi tường thuật hoặc phiên dịch thời sự về Miến Ðiện, chúng ta thường chỉ chú ý đến ách độc tài hay hy vọng dân chủ tại xứ này. Sự thật nó còn phức tạp gấp bội nếu mình nhìn ra yếu tố kinh tế và an ninh của Trung Quốc, hay Miến Ðiện, hay cả khu vực Ðông Nam Á. Căn bản nhất, chế độ quân phiệt Miến Ðiện không chỉ có hại cho dân Miến và có lợi cho Bắc Kinh. Nó còn đảo lộn an ninh Ðông Nam Á và đe dọa quyền lợi của cường quốc nằm bên kia Vịnh Bengal, là Ấn Ðộ.

Từ nhiều năm liền, chính quyền New Dehli thấy ra mối nguy bị Trung Quốc bao vây từ phía Tây là Pakistan qua phía Ðông là Miến Ðiện. Vốn dĩ có quan hệ kinh tế lâu đời với Miến, Ấn Ðộ đã vào phát triển dự án dẫn khí từ Sittwe, phía Bắc đảo Ramree, để đưa khí đốt từ ngoài khơi Miến Ðiện qua xứ Bangladesh đến tiểu bang Tây Bengal của mình. Song song, Ấn cũng mở xa lộ nối liền ba thành phố Kolkata của Ấn (mà ta gọi theo tên cũ là Calcutta), Chittagong của Bangladesh và Rangon (của Miến mà ta gọi theo tên cũ là Ngưỡng Quang) vào một tập thể kinh tế của Ấn Ðộ Dương.

Tức là không chỉ riêng Trung Quốc, cường quốc kinh tế kia là Ấn Ðộ cũng chú ý đến Miến Ðiện. Ðộng lực kinh tế là khai mở một khu vực rộng lớn mà bị kẹt trong đất liền tại miền Bắc Ấn và qua đó lôi kéo một xứ Hồi Giáo là Bangladesh (xưa kia là Ðông Hồi của Pakistan) vào mạng lưới kinh tế của mình. Ðộng lực an ninh là đảo ngược dàn phong tỏa của Trung Quốc và chủ động nối liền Ấn Ðộ Dương với Thái Bình Dương hiện do Hoa Kỳ kiểm soát và bảo vệ.

Ðây là lý do vì sao mà các nước trong khu vực và cả Hoa Kỳ đều đánh giá sự chuyển hóa tại Miến Ðiện là biến cố quan trọng nhất Ðông Nam Á trong thập niên đầu của thế kỷ 21.

An ninh và dân chủ

Hồ Sơ Người-Việt xin đi tới kết luận.

Miến Ðiện đang chuyển ra khỏi chế độ độc tài quân phiệt. Tiến trình ấy không đơn giản, gọn gàng và mau chóng mà còn gặp rất nhiều chông gai.

Miến Ðiện là một xứ đa chủng, đa số là sắc dân Miến sinh sống trong vùng đồng bằng sông Irrawaddy nhưng một phần ba là các sắc dân thiểu số cư ngụ tại khu vực hiểm trở và chiến lược vì tiếp giáp với Trung Quốc, hoặc Thái Lan. Các sắc dân đó, như Chin, Kachin, Shan, Karen… có lực lượng võ trang riêng và thực tế là mối lo của Miến tộc.

Ðã thế, trong từng sắc dân còn có nhiều bộ tộc khác biệt do bao đợt di dân trong lịch sử, từ Tây Tạng, Trung Quốc, Ấn Ðộ hay Bangladesh, Thái Lan và Cam Bốt. Khác biệt về cả truyền thống lẫn ngôn ngữ và ý thức về sự căn thuộc – tôi là gốc Hoa, người Karen hay công dân Miến Ðiện?

Sau khi giành lại độc lập, Tướng Aung San – thân phụ của Phu nhân (Daw) Aung San Suu Kyi thời nay – đã chủ trương xây dựng một chế độ đa nguyên đa chủng và chấp nhận quyền tự trị của các sắc tộc thiểu số. Không may là ông lại bị đối thủ chính trị ám sát năm 1948. Ngày nay, vai trò của bà Suu Kyi (xin đọc như su-shi) có thể là yếu tố hòa đồng và hàn gắn chủng tộc. Nhưng chưa chắc đã vượt qua nổi những chướng ngại và nghi ngờ tích lũy từ hơn nửa thế kỷ, chưa nói đến âm mưu khuynh đảo hay khuấy động của Trung Quốc hay các lân bang Miên, Thái.

Khi nhìn vào Miến Ðiện, vấn đề không chỉ là dân chủ hay độc tài, hoặc xây dựng các định chế dân chủ cho một quốc gia đã bị nạn độc tài tàn phá quá lâu. Vấn đề còn là xây dựng dân chủ và an ninh trong khi quá nhiều sức ly tâm có thể xé quốc gia này làm nhiều mảnh.

Lợi thế của Miến Ðiện và phong trào dân chủ là có sự yểm trợ của các nước dân chủ như Anh, Ấn Ðộ, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Một lợi thế khác, dù có vẻ tượng trưng, là tính chất thành viên của Hiệp Hội 10 Quốc Gia Ðông Nam Á ASEAN mà năm tới Miến Ðiện sẽ là chủ tịch luân phiên. Vì vai trò quốc tế đó mà hệ thống quân phiệt sẽ phải hành xử tương đối đàng hoàng và tiếng nói bà Suu Kyi có trọng lượng hơn.

Nhưng then chốt là chính các tướng lãnh đứng sau hậu trường chính trị Miến Ðiện cũng phải học tập về xây dựng và phát triển quốc gia, vốn dĩ là một tiến trình gian nan chứ không giản dị. Với lợi thế kinh tế rất lớn của nguồn tài nguyên dồi dào, Miến Ðiện có thể phân bố quyền lợi cho công bằng và tốt đẹp cho mọi sắc tộc, nhưng việc phân phối ấy phải có những bước quy định về pháp lý và hiến chế, một vấn đề rất chuyên môn và đầy trọng lượng chính trị. Nền dân chủ Miến phải đảm bảo được cả an ninh cho tổ quốc.

Xét như vậy, bài toán của Miến Ðiện còn bội phần khó khăn hơn Việt Nam. Vậy mà chế độ quân phiệt vẫn dám làm. Lãnh đạo xứ này quả là khá hơn lãnh đạo Hà Nội.

.