Thời Pháp thuộc, đồng bào ở miền Tiền Giang, Hậu Giang đều nghe danh Ðơn Hùng Tín. Anh ta thuộc vào hàng “đại ca,” điều khiển một số tay anh em giết người cướp của không gớm tay. Lời nói và việc làm của Ðơn Hùng Tín luôn luôn đi đôi. Trước khi đánh cướp, Ðơn Hùng Tín báo trước ngày giờ để cho gia chủ đề phòng.

Sơn Nam

.

Khi quân cướp rút lui, chẳng ai dám hó hé tố cáo hoặc truy nã. Du đãng Ðơn Hùng Tín thường vượt ngục phá khám hoặc được quan trên “tha bổng”. Vì vậy, dư luận cho rằng có nhiều ông hương chức hội tề hoặc ông cò Tây đã bí mật làm tay chân cho Ðơn Hùng Tín vì sợ anh ta, vì tham của hoạnh tài.

Xưa kia, Ðơn Hùng Tín chưa lấy biệt danh ấy. Anh ta còn là kẻ vô danh, đọc truyện Ðường, nuôi chí lớn và chờ thời.

Vùng núi Tà Lơn nổi danh là nơi ẩn nấp của lắm tay siêu phàm. Lúc phiêu bạt đến đó Ðơn Hùng Tín chỉ là một hột cát bé bỏng. Anh ta thường dạo khắp mấy hang đá cheo leo, hôm ấy gặp một thanh niên ốm o gầy mòn. Thanh niên hỏi:

– Anh là ai?

Ðơn Hùng Tín hỏi ngược lại:

– Còn anh… anh là ai?

Chàng thanh niên bèn mời Ðơn Hùng Tín vào hang đá mà nói:

– Ở đây, người nào cũng như người nấy. Ðứng về võ nghệ mà phê phán thì có hơn chục người sành sỏi, bóp viên đá ra như cám hoặc nhảy như bay qua miệng hố. Chẳng hay anh bạn giỏi về môn nào?

Ðể che giấu cái tài hèn đức kém của mình, Ðơn Hùng Tín lại dùng thủ đoạn cũ, nghĩa là hỏi vặn:

– Còn anh bạn?

Thanh niên mỉm cười:

– Tôi mới biết sơ qua vài “ấn”. Nè anh bạn tới thăm tôi trễ, gặp dịp, tôi “triệt” bà cố cho bạn xem mãn nhãn.

Ðơn Hùng Tín đâm ra nghĩ ngợi: “bà cố” là vị thần mạnh nhất, huyền diệu nhứt so với các cô, các cậu đang bay bổng, phiêu du khắp cõi càn khôn. Người biết bắt ấn, triệt được “bà cố” hẳn phải là tay dày công luyện tập. Thanh niên nọ cứ day mắt vào vách đá, miệng đọc bùa chú lâm râm. Ðể tỏ rằng mình đầy đủ bản lĩnh. Ðơn Hùng Tín cố ý khuấy rối sự yên tĩnh:

– Anh bạn hơi đâu mà luyện tập thứ ấn thấp kém đó. Tôi đây biết bùa phép và thường triệt “bà cố”. Chẳng hay anh bạn triệt kiểu nào?

Theo danh từ nhà nghề, “triệt” tức là kéo níu. “Bà cố” bay phiêu diêu như chiếc xe mạnh bằng chục mã lực. Triệt “bà cố” chẳng khác nào kẻ vận dụng sức lực để níu lại một chiếc xe đang mở máy phóng tới. Thanh niên nọ vẫn mỉm cười đưa chân mặt ra phía trước rồi cong lưng, dùng tay trái mà nắm lấy một ngón chân:

– Ðại để… tôi làm như vậy. Bà cố thường vân du, như bánh xe xoay tròn, muôn màu muôn sắc. Lúc tôi bắt ấn, mình mẩy tôi rêm nhức, đầu óc nóng bừng bừng. Gần đây, còn một lão tổ sư khác thường tới lui thăm tôi, lão chê tôi làm trò chơi kiểu con nít.

Ðơn Hùng Tín bắt đầu e ngại. Trên dãy núi Tà Lơn này anh ta rõ ràng là bất tài, chưa xứng đáng làm đệ tử của chàng thanh niên, nói chi đến lão tổ sư. Chàng thanh niên hiểu rõ nhược điểm của người bạn đang ngồi trước mặt.

Ðơn Hùng Tín trố mắt như lao vào một thế giới vô hình. Từ đây tới điện Cán Dù, mỗi khi trời mưa lắc rắc, ngoài dấu chân heo rừng hoặc hươu nai, đôi khi thiên hạ gặp ngoài dấu chân nhỏ nhỏ của một người con gái. Nàng là ai? Càng khó hiểu hơn là những bước chân ấy được in trên cát xa cách nhau. Dấu chân mặt và dấu chân trái nàng giống hệt dấu của kẻ đi với đôi hài… bảy dặm.

Mưa bắt đầu rơi, Ðơn Hùng Tín rùn mình hỏi kỹ:

– Thật vậy không?

Chàng thanh niên đáp:

– Nhiều tay tổ sư lập đàn để “triệt” vong hồn kẻ khuất mặt nhưng nàng vẫn chưa chịu về. Anh bạn mà triệt được nàng, ắt nổi danh.

– Tôi chưa học tới thứ ấn đó. Ðơn Hùng Tín đáp.

Chàng thanh niên đắc ý, hiểu rằng người khách lạ có thân hình to lớn ấy đã lọt vào cạm bẫy tâm lý của mình. Chàng nói tiếp:

– Ở đàng kia, còn một ông lão tài ba lỗi lạc. Lão ta đang nắm giữ bộ sách “Thiên thư bí quyết.” Anh bạn đọc qua bộ đó chưa?

Ðơn Hùng Tính đáp:

– Tôi nghe sơ qua cái tựa chớ chưa đọc.

Chàng thanh niên cố ý giữ thể diện dùm cho người khách lạ. Theo lời thuật của anh ta thì ông lão kia học được vài phép mầu nhiệm trong bộ “Thiên thư bí quyết”.  Lão nuôi một con khỉ, mỗi ngày cho khỉ uống một lá bùa. Uống đến lá bùa thứ bảy thì con khỉ nọ tự nhiên ngã lăn ra chết. Lão đem xác con khỉ bỏ trong cái hộp bằng cây trầm hương. Ðúng trăm ngày, lão mở hộp ra, cho con khỉ uống lá bùa thứ tàm. Khỉ mở mắt, bắt đầu chạy nhảy lanh lẹ như xưa. Và mỗi ngày khỉ chạy đến chân núi, ăn cắp đúng hai đồng xu về nạp cho ông lão.

Ðộng lòng tham, Ðơn Hùng Tín nói:

– Mưu kế đó mầu nhiệm, nhưng mỗi ngày có hai xu, ít quá. Con khỉ tuy khôn lanh ngặt nó hành động theo thói tiểu nhơn, trộm cắp lén lút. Tôi đây muốn làm cách nào… lấy của giữa ban ngày.

– Nghĩa là… ăn cướp?

Ðơn Hùng Tín gật đầu:

– Nhưng ăn cướp đâu có nghĩ là làm chuyện bất lương thất đức. Mình ăn cướp đường đường, bắn súng cho chủ nhà cướp hay tin trước. Mình ăn cướp tiền bạc của Tây tà, đem phân phát cho kẻ bần hàn…

Luận điệu dối trá, giả nhân giả nghĩa ấy bỗng nhiên được chàng thanh niên tán đồng. Thật ra từ bốn năm trường nay, chàng thanh niên lên núi với hy vọng lập nghiệp. Hồi ở Châu Ðốc, chàng ta làm nghề dạy học rồi bị sa thải vì tội cờ bạc và hút thuốc phiện.

Lên ở ẩn trên núi, chàng ta không đủ can đảm để luyện phép, tu tiên nhưng vẫn nuôi mộng được làm quân sư cho một kẻ anh hùng. Hôm nay, gặp kẻ anh hùng “vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” như kẻ đang viếng động, chàng mừng khấp khởi.

Năm sáu ngày ròng rã, Ðơn Hùng Tín ăn ngủ tại nhà chàng thanh niên. Chàng ta giới thiệu:

– Tôi là Giáo Phép, đại ca cứ gọi tôi bằng em.

Ðơn Hùng tín đáp:

– Gặp được chú Giáo, tôi mừng như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Xem qua truyện Tống, truyện Ðường, tôi thích có một người. Ðó là Ðơn Hùng Tín, người tận trung với chúa. Mai chiều mình làm giàu, cùng nhau chia cơm xẻ áo.

Giáo Phép nói rỉ vào tai Ðơn Hùng Tín, mặc dầu chung quanh hang đá chẳng có người thứ ba nào rình nghe trộm:

– Mấy ông già tiên ở trên núi… nhứt định đâu thèm làm đệ tử cho anh em mình. Muốn lập đảng cướp, mình nên qui tụ bọn người đốn củi dưới chân núi.

Ðơn Hùng Tín cau mày:

– Làm sao thu phục họ được? Mình không biết “triệt” bà cố, ngồi đàn bắt buộc cô gái ma xuất hiện hoặc… nuôi khỉ?

– Dễ quá. Ðời vật chất văn minh. Tây cai trị nước mình được là vì Tây có súng. Mình nên dùng súng để trị súng!

Ðơn Hùng Tín lắc đầu:

– Làm sao lập đạo binh chống với Tây tà được? Thú thiệt với chú Giáo, tôi có mang lên đây một khẩu súng “mút cơ tông” với ba viên đạn mà thôi.

Giáo Phép mừng quýnh, nói rỉ vào tai Ðơn Hùng Tín ba điều bốn chuyện rồi xin phép đại ca xuống núi vài ngày để mua sắm vài thứ bùa phép cần thiết, chờ khi phất cờ gióng trống, chiêu quân mãi mã. Nghe qua, Ðơn Hùng Tín cười dòn, vỗ đùi bôm bốp.

Giáo Phép từ Châu Ðốc trở về núi Tà Lơn.

Ðơn Hùng Tín mừng rỡ sau khi nghe giải thích vài chi tiết trong quyển sách khá dày, đóng bìa da:

– Thiệt vậy hả chú Giáo? Ngày mai chú xuống chợ Cần Giuộc truyền rao, ngày mốt tôi xưng vương, chánh thức ra mắt. Mười ngày sau nữa, tôi… làm giàu, công ơn chú, chẳng bao giờ tôi quên.

Giáo Phép đắc ý, lật qua lật lại mấy trang sách:

– Ðúng là bộ Thiên thư bí quyết viết bằng chữ Tây. Bên Tây họ thí nghiệm nhiều lần rồi, ở hội chợ phiên, thiên hạ kéo tới đông nghẹt, nhiều người ngất xỉu vì ngột hơi thở, vì quá sợ sệt. Huống chi ở xứ Tà Lơn khỉ ho cò gáy này.

Từ đó đến chiều. Ðơn Hùng Tín uống rượu khá nhiều. Anh ta đem khẩu súng ra chùi cho bóng láng và đếm tới đếm lui mấy viên đạn. Với chiếc kiềm sắt, anh ta tháo đầu đạn, ráp vào rồi lại tháo ra. Hồi lâu, như chưa vừa ý, anh ta đốt đèn sáp để lấy chất khói đèn…

Giáo Phép xuống núi, truyền rao với các anh hùng tứ chiến:

– Sáng mai, mời anh em tới điện Cán Dù xem Ðơn Hùng Tín… thổi bùa.

Ai nấy tỏ vẻ lạnh lùng:

– Chán bùa phép quá rồi. Tụi tui muốn tìm thứ bùa phép nào đem lại cơm gạo hoặc tiền bạc để nuôi vợ nuôi con. Chẳng lẽ tụi tôi lưu lạc tới xứ này để học bay nhảy trên gành đá, tranh tài với loài khỉ, loài vượn.

Giáo Phép đáp:

– Bùa phép của Ðơn Hùng Tín nhứt định đem cơm gạo vàng bạc cho tất cả các đệ tử.

– Làm bạc giả à? Liệu Ðơn Hùng Tín ăn thua với lính mã tà được không? Ðơn Hùng Tín là ai? Ở xứ núi non, tụi tui nghe nhiều cái danh hiệu nghe điếc con ráy, rốt cuộc gặp toàn những đại ca thuộc vào hàng “khôn nhà dại chợ.”

Ðể chứng tỏ mình là kẻ khiêm tốn. Giáo Phép ngồi xuống, nghe đám anh hùng tứ chiến thuật lại những trận “hô phong hoán võ ” thất bại, lỡ cười lỡ khóc. Nào là Tiết Ðinh San chạy bò càng khi đánh cướp, bị chủ nhà vây bắt. Chủ nhà nào có tài ba gì đâu cho cam? Ðám gia nhân chỉ hò hét, đốt pháo tre, liệng chai đựng đầy nước mắm. Miểng vỏ chai bể, dính nước mắm mà ghim vào da thịt thì phải biết! Nó gây thương tích nhức nhối vô kể.

Lại còn chuyện Tiết Nhơn Quí tự xưng biết “thăng thiên độn thổ” nhưng khi biểu diễn thì “thăng” lập tức! Một người trong đám cử toạ đưa ra “cây dao con chó”, yêu cầu Tiết Nhơn Quí nghim vào da thịt. Tiết Nhơn Quí ngáp rồi ụa mửa, đôi mắt ngơ ngác, hẹn sẽ lóc từng miếng thịt của mình cho cử toạ xem… vào dịp khác thuộc ngày lành hơn, tháng tốt hơn và giờ khác linh thiêng hơn.

Giáo Phép lắc đầu:

– Xưa nay, những người giả thì nhiều mà những người thiệt thì ít. Tôi là người có ăn học, anh em dư biết. Tôi chẳng bao giờ sùng bái ai, vậy mà tôi đành thọ giáo với Ðơn Hùng Tín. Ông này ghê gớm lắm.

Bọn anh hùng tứ chiến đáp:

– Ghê tới mức nào? Ông thuộc vào hạng người siêu phàm, súng bắn vào không nổ chứ gì?

– Ông giỏi hơn một bậc. Súng bắn nổ rầm rầm không chết!

– Súng gì?

– Súng “mút cờ tông” của Tây.

– Tại sao ổng không chết?

– Nhờ đọc bộ “Thiên thư bí quyết.” Ổng luyện tập… mười mấy năm trường ròng rã. Sau khi súng nổ, ổng cười “hề hề.” Ngày mai đúng vào giờ ngọ, tại điện Cán Dù. Bà con nhớ tới xem cho biết.

Nguồn tin Ðơn Hùng Tín sắp hạ san khiến bọn anh hùng tứ chiến xôn xao. Họ nói chuyền miệng, kéo tới điện Cán Dù. Ðã từng lưu lạc giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật, họ dư hiểu: Nếu phò tá cho một kẻ súng bắn không chết dĩ nhiên họ sẽ làm giàu. Ðơn Hùng Tín sẽ kéo toàn đảng, đạp khắp đó đây, từ thôn quê tới thị thành, tha hồ bao vây nhà mấy ông cai tổng, chận xe đò hoặc bắt cóc, thủ tiêu vài ông Tây cho biết mặt.

Ðơn Hùng Tín mặc quần cụt ở trần, mình mẩy xăm toàn rồng và chim phụng hoàng. Ngay giữa ngực anh ta, còn có hàng chữ Pháp, nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc phá khám Bách Ti 1789 ở mẫu quốc xa xôi: Tự Do – Bình Ðẳng – Bác Ái.

Anh ta đứng sẵn trên miệng hố:

– Nếu chết thì tôi bỏ xương dưới cái hố oan nghiệt này để đền tội nói láo với bà con. Tôi biết bà con chưa tin.

Rồi anh ta khoác tay:

– Chú Giáo! Ðem cây súng với viên đạn cho bà con coi trước. Xưa nay, bà con thuờng gặp nhiều vụ bắn súng giả, nào họ dũa “con cò” súng hoặc xài súng giả, đạn giả.

Giáo Phép trao cây súng “mút cơ tông” bóng láng cho từng người xem. Và điều này rất quan trọng. Chàng ta đưa ra một viên đạn bằng đồng. Ðầu đạn sáng choang nhọn liễu. Bọn anh hùng tứ chiến rất kiêng oai loại súng “mút cơ tông”. Nghe đâu hồi giặc Âu Châu đại chiến 1914-1918, Pháp quốc thắng Ðức quốc nhờ loại súng thần tốc này. Và anh hùng Phan Xích Long đòi phá khám Sài Gòn cũng đã bó tay chịu phép khi nhà cầm quyền Pháp cho nổ chỉ thiên vài phát.

Giáo Phép xin lại cây súng rồi nói:

– Súng thứ thiệt, đạn thứ thiệt. Bà con còn thắc mắc gì không? Và đằng kia là Ðơn Hùng Tín đang ở trần.

Ðơn Hùng Tín quát to:

– Cứ bắn cho mau. Tôi đứng cách họng súng chừng năm thước. Bà con cứ xáp lại gần, cách tôi chừng một thước.

Giáo Phép nạp đạn vào lòng súng trong khi hàng chục cặp mắt đổ dồn về mấy chữ” Tự Do-Bình Ðẳng-Bác Ái. Lồng ngực của Ðơn Hùng Tín phồng lên, xẹp xuống.

Ðơn Hùng Tín nhép miệng như đang đọc thần chú.

– Ðùng!

Mùi khói thuốc bay nồng nặc. Cử toạ rú lên? Ðơn Hùng Tín vẫn đứng sững, sống nhăn. Và anh ta đang nhe răng cắn viên đạn đồng!

Ai nấy im lặng.

Ðơn Hùng Tín nhả ra, viên đạn đồng rớt xuống đá nghe tiếng “bốc”, lăn tròn.

Giáo Phép chạy tới lượm viên đạn, trao cho cử tọa:

– Thấy chưa! Ðơn Hùng Tín đớp viên đạn. Viên đạn còn nguyên không móp!

Trong đám cử tọa, có kẻ như đang hồ nghi điều gì. Kẻ ấy cầm viên đạn, đưa qua đưa lại để quan sát. Nhanh như chớp, Giáo Phép nạp viên đạn thứ nhì, nhắm ngay đầu kẻ ấy mà bắn:

– Chát!

Máu tuôn ra từng giọt trên vách đá. Kẻ ngạo mạn ấy nghiêng đầu, từ từ ngã gục. Giáo Phép chỉ tay vào mặt hắn:

– Tao bắn cái vong hồn của mầy cho mầy thấy! Kìa! Trên vách, mấy giọt máu tươi của mầy. Mầy chưa chết đâu! Day mặt mà xem.

Từ đây oai danh của Ðơn Hùng Tín nổi như cồn. Bọn đệ tử vững bụng rằng “đại ca” của mình thuộc vào hàng “súng bắn không chết”. Ðơn Hùng Tín trở thành vị hung thần của đất Nam Kỳ thuộc địa, gây nhiều sự bận rộn cho nhà cầm quyền Pháp.

Là kẻ sanh sau đẻ muộn, người viết bài nầy chỉ nghe thuật giai thoại kể trên. Bộ “Thiên thứ bí quyết” là loại sách gì? Tại sao anh ta cắn được viên đạn vào miệng? Lão quân sư Giáp Phép bây giờ ở đâu để giải đáp?

Tình cờ, chúng tôi đọc được quyển sách ảo thuật của Yvon Yva, một người Pháp. Sách ấy giải đáp toàn vẹn kỹ thuật súng bắn không chết của các tay gian đạo sĩ Âu Châu đang áp dụng.

Ðại khái, họ nạp vào nòng súng một viên đạn có cái đầu “ban” giả, đúc bằng sáp. Ðầu đạn sáp ấy nhuộm khói đèn nên giống màu đồng đen. Súng nổ, đầu dạn sáp chảy ra. Và Ðơn Hùng Tín đã ngậm sẵn trong miệng một đầu đạn thứ thiệt, trưng ra sau khi súng nổ. Phát súng thứ nhì… đổ máu. Ðó cũng là viên đạn có đầu “ban” bằng sáp, trong lòng đầu “ban” chứa son tàu, giống hệt máu.

Có điều chắc chắn là Ðơn Hùng Tín và quân sư Giáo Phép chẳng bao giờ đọc sách của Yvon Yva, sách này mới xuất bản từ vài ba năm nay. Có thể là Giáo Phép đọc một quyển sách khác rồi nghiệm thêm, đem ra thực hành với sự góp ý của Ðơn Hùng Tín.

Quả thật những người sống “nhàn cư” ở núi Tà Lơn là những kẻ lợi hại, thông minh hơn… người Pháp.

.