Báo cáo của UNESCO cho thấy Việt Nam hiện đang có số học sinh bỏ học lớn nhất Đông Nam Á, và là 1 trong 10 nước trên thế giới có hơn 1 triệu học sinh trong độ tuổi từ 6 – 15 không đến trường. Đáng chú ý hơn, 40% những người bỏ học nêu lý do là chán học.

By Quỳnh Vinh

Nguồn : CAND online

.

Trẻ em ở An Giang lao động

Sáng 24/11/11 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo công bố Báo cáo quốc gia của Chương trình nghiên cứu “Young Lives” (Những cuộc đời trẻ thơ). Theo báo cáo này, tăng trưởng kinh tế liên tục trong những năm gần đây đã mang lại những thay đổi quan trọng trong phát triển của trẻ em Việt Nam: tăng giàu, giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo (theo chuẩn 2000 clori/ngày) giảm từ 22,7% năm 2006 xuống còn 10,7% năm 2009. Tiếp cận dịch vụ nói chung, trong đó tiếp cận y tế, nước sạch đều cải thiện. Lớp trẻ thiên niên kỷ có các chỉ số về dinh dưỡng tốt hơn hẳn so với lớp trẻ sinh năm 1994 – 1995.

Tuy nhiên theo TS. Lê Thúc Dục, Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, về chất lượng giáo dục, có 2 vấn đề đáng quan tâm là bỏ học và học thêm. Báo cáo của UNESCO cho thấy Việt Nam hiện đang có số học sinh bỏ học lớn nhất Đông Nam Á, và là 1 trong 10 nước trên thế giới có hơn 1 triệu học sinh trong độ tuổi từ 6 – 15 không đến trường. Đáng chú ý hơn, 40% những người bỏ học nêu lý do là chán học. Đây là một trong những dấu hiệu về sự tụt hậu của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trong số trẻ 15 tuổi còn đang đến trường, tỷ lệ học thêm là 75%, trung bình mỗi trẻ học thêm 10 giờ/tuần. Chi phí cho các lớp học thêm cũng trở thành gánh nặng tài chính đối với nhiều gia đình, tuy nhiên việc tham gia học thêm lại không có tác động đáng kể tới trình độ nhận thức của trẻ. TS. Dục nhấn mạnh: “Nếu không có những biện pháp thay đổi mạnh mẽ hoạt động của ngành giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực sẽ tiếp tục là yếu tố cản trở mục tiêu tăng trưởng bền vững của kinh tế Việt Nam”.

Chương trình “Những cuộc đời trẻ thơ” là chương trình nghiên cứu quốc tế về sự thay đổi tình trạng nghèo của trẻ em (2002 – 2017), với mục tiêu tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả tình trạng nghèo của trẻ em, tác động của các chính sách tới cuộc sống của trẻ, và cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng, thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo trẻ em. Đối tượng nghiên cứu là 12.000 trẻ em ở 4 quốc gia gồm: Ấn Độ, Ethiopia, Peru và Việt Nam. Tại mỗi nước chương trình theo dõi 2000 trẻ sinh năm 2001, 2002 và 1000 trẻ sinh năm 1994, 1995. Ở Việt Nam, Chương trình nghiên cứu 3000 trẻ ở 34 xã tại các tỉnh Bến Tre, Đà Nẵng, Hưng Yên, Lào Cai và Phú Yên