Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn…

by Vũ Thế Thành

.

Tôi gặp cha con họ  trong một quán phở gần nhà thờ Ba Chuông, hồi năm 80 hay 81 gì đó.

Tối đó trời mưa. Đi chơi về khuya, tôi táp vào quá phở. Quán vắng khách, chỉ có 2 người: ông già và cô gái. Họ đang uống rượu, thủ thỉ nói chuyện. Hơi lạ!

Tô phở đã kết thúc mà mưa chưa dứt. Sàigòn mưa tháng bảy nhì nhằng bất kể lúc nào, tối khuya hay nửa đêm về sáng cũng chẳng chừa.

“Chú em qua đây làm một ly cho ấm bụng”, ông già nâng ly nói vói qua. Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. Mưa rả rích thế này, đang thèm rượu, mà uống một mình, cay ai chịu nổi. Không khách sáo, tôi bước qua bàn ông và cạn ly.

Ông chỉ qua cô gái với chút hãnh diện: “Đây là con gái tôi. Nó làm ở tổ hợp đan lát. Hôm nay nó lãnh lương, rủ bố đi nhậu”. Cô gái trạc hai mươi, tóc ngắn, có da thịt, trông có vẻ quyết đoán.

Không khí bàn nhậu thường làm tâm hồn người ta chùng lại, đôi khi nói với khoảng không, nói mà như không nói, … Trong những khoảng khắc đó, cô có thể bắt gặp được cha cô.

Ông tự giới thiệu là họa sĩ. Trước năm 75, có triễn lãm tranh ở nhiều nơi, kiếm tiền rủng rỉnh, tay chơi một thời. Bây giờ chẳng ai mua tranh, đi vẽ thuê  panô, áp phích qua ngày. Tôi dốt hội họa bẩm sinh, dốt thời đi học, và bây giờ vẫn dốt, nên không hào hứng lắm với chuyện tranh ảnh, nhưng nghe ông kể cuộc đời lãng tử của ông, chuyện văn nghệ sĩ Sàigòn cũng thấy vui vui. Chuyện vãn tôi đoán ông khoảng ngoài năm mươi, tóc dài chấm vai, thưa, nhiều sợi bạc, mắt hõm sâu, tinh anh, mặt gầy, xương xẩu, áo sơ mi đuôi tôm rộng thùng thình. Trông ông có vẻ già hơn tuổi nhiều.

Tô mồi gân bò còn hơi đầy, nhưng xị rượu gần cạn. Có vẻ như cha con họ uống nhiều, nói nhiều và nghe nhiều hơn là ăn. Tôi gọi thêm xị rượu: “ Xin phép chú, từ chai này cháu tính, mời chú và cô em…”. Ông xua tay, hơi to giọng: “ Chú em gọi rượu được, tính tiền được, nhưng không được gọi tôi bằng chú, phải gọi là anh, mình là dân nghệ sĩ…”. Ông già chơi thế mới…nghiệt. Tôi hơn cô gái chừng năm, sáu tuổi chứ nhiêu, lỡ cỡ… Tôi rót rượu mời ông, mời cô gái. Cô chỉ nhấp môi, lí nhí : “ Cám ơn…chú”. Lỡ cỡ là ở chỗ đó! Ông già cười ha hả: “ Con này nó chỉ đá mồi”.

Rượu ngấm qua bờ môi… Bỗng nhiên ông đứng dậy, lảo đảo, một tay vịn mép bàn, ông hát:

“Ngày mai lênh đênh trên sông Hương.
Theo gió mơ hồ hồn về đâu?
Sóng sầu dâng theo bao năm tháng.
Ngóng về đường lối cũ tìm em…”

Tiếng hát không cần nhịp, lúc ngắn lúc dài, khi hát khi nói, lúc nhỏ lúc to,… Lưng ông còng, khom người xuống, tay phải áp vào tim, dang ra diễn đạt, trông ông còng đến thảm hại. Ông hát không cần người nghe, ông hát cho chính ông, hát để trang trải nỗi lòng. Rồi ông thẳng người lên:

“ Thương em thì thương rất nhiều,
mà duyên kiếp lỡ làng rồi.
Xa em, lòng anh muốn nói….”.

Giọng ông khàn, gào lên như tiếng con gà bị cắt tiết. Tôi nhìn sang cô gái, mắt cô chăm chăm nhìn ông. Tôi buột miệng: “ Mẹ đâu?”. Mắt cô vẫn không rời cha, môi mím chặt: “ Bỏ đi rồi!”. Tôi thấy khóe mắt cô có giọt nước…

Những năm tháng đó, lòng người đổ vỡ nhiều, kẻ đi người ở, tâm trạng lao đao, nhân tình thế thái. Giọng hát của ông họa sĩ dở nhất trên đời, nhưng nghe ông hát, nhìn ông diễn mới cảm ra được số phận thế nào. Tiếng hát không đi vào lòng người thì đi về đâu? Ánh mắt của cô con gái nhìn cha đã ám ảnh tôi cả một đoạn đường dài.

Cách đây không lâu, tôi có đọc một truyện ngắn của một cô gái kể về cha mình. Cha cô là một người đàn ông có trách nhiệm, nghiêm khắc, thương con. Từ ngày qua Mỹ, ông làm quần quật để lo cho các con ăn học. Mục tiêu của ông là thế, rồi dựng vợ gả chồng. Mẹ cô tiếng Anh kém, nên chỉ ở nhà nội trợ. Đến tuổi, mẹ cô lãnh tiền già, ba cô lãnh lương hưu. Mẹ cô bỗng đổi tính đổi nết, ăn nói ngang ngược, suy diễn lung tung. Ba cô trở nên ít nói, suốt ngày trong phòng, niềm vui duy nhất là đứa cháu ngoại. Rồi một hôm, cha cô bỏ đi, để lại mảnh giấy nhắn, đừng  lo cho ông và cũng đừng tìm ông. Cô lo lắng, dọ hỏi khắp nơi. Không ai biết tin về ông.

Một hôm cô nhận được thiệp mừng sinh nhật của ông, không phải cho cô, mà cho con gái cô. Ba cô nhớ cháu ngoại. Thư không có địa chỉ người gửi. Theo dấu bưu điện, cô biết ông ở thành phố, cách chỗ cô cả ba ngàn cây số. Cô xin nghỉ phép, bay đến đó, hỏi thăm người quen của ba cô ở gần thành phố đấy. Cũng không ai biết. Tuyệt vọng, cô đi bay về, thì ba cô đến tìm cô ở khách sạn. Hai cha con ra quán cà phê. Cô mời ông về nhà để cô chăm sóc, các cháu nhớ ông ngoại. Ông từ chối. Ông nói, ông đang trông cửa hàng cho một người bạn, hồi còn đi học. Bà ta đã góa chồng, hiện ở với đứa con gái trạc tuổi cô. Cả hai rất quý ông, và ông cảm thấy thoải mái khi ở đó. Trông cha cô khỏe ra, vui hơn, cô thấy yên tâm. Dặn ông nhớ viết thư thường để cô đỡ sốt ruột. Nhưng rồi cô cũng chẳng biết địa chỉ nơi cha cô ở. Ông không nói.

Bốn năm sau, ông quay về thăm nhà. Mẹ cô cạnh khóe, ông lại trở nên ít nói. Ba hôm sau, ông bị đột quỵ, rồi mất ở bệnh viện vài ngày sau đó. Ở nghĩa trang, mẹ cô cũng than khóc như bất cứ bà vợ mất chồng nào khác. Bỗng nhiên, cô thấy xa xa, hai người phụ nữ mặc đồ đen, một già, một trung niên, lặng lẽ đứng dưới gốc cây.. Linh cảm cho cô biết họ là ai. Cô muốn bước đến nói lời cám ơn họ đã chăm sóc cha cô những năm tháng cuối đời. Một trong hai người đang dùng khăn chậm nước mắt. Cô chợt hiểu, họ đã làm thay cô hơn cả những gì gọi là chăm sóc, điều mà lẽ ra cô nên làm. Nhưng họ đã quay lưng đi về phía cổng nghĩa trang. Cô cảm thấy có điều gì đó ân hận và nuối tiếc… Chuyện chấm dứt ở đây.

Cô thương cha, cô muốn phụng dưỡng, chăm lo ăn uống, săn sóc sức khỏe cho cha. Cô cũng hiểu cha cô buồn bực, khổ tâm vì những lời nói ngang ngược của mẹ. Là con, cô cảm thấy mình khó xử, biết làm gì bây giờ? Cô muốn cha vui. Nhưng có thể cô chưa hiểu, người già như cha cô, khi xong nghĩa vụ với con cái, lo cho chúng yên bề, họ thường có xu hướng quay về với quá khứ, với những ước mơ thời trẻ, không phải để thực hiện hay nuối tiếc, mà để sống với nó, đắm chìm với nó như một níu kéo mà phần lớn cuộc đời, vì cơm áo gạo tiền, vì trách nhiệm với gia đình họ không dám phiêu lưu.

Thức ăn trở nên nhạt, sức khỏe là điều miễn cưỡng. Người già thấm thía số phận hơn người trẻ. Con cái quan tâm đến cha mẹ già như một đối tượng khách quan, chữ hiếu được làm tròn bằng sự chăm sóc duy ý chí với những kiến thức khoa học hiện đại. Đó có phải là những thứ người già cần?

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn.. Khi cha mất, cô chợt hiểu ra nhu cầu tinh thần của ông. Cô biết ơn người đàn bà đã chăm sóc, đã mang lại chút niềm vui cho cha cô lúc cuối đời. Người đàn bà lặng lẽ ở nghĩa trang đã làm cô hiểu ra điều đó. Cô hiểu, nhưng chưa thấu được những giọt nước mắt “không chính danh” của người phụ nữ kia đã phải nuốt ngược vào tim. Tử Kỳ mất rồi, cây đàn Bá Nha còn để làm gì? Cô chưa với tay được tới tri âm.

Chưa với tay được, có lẽ vì cô chưa bao giờ ngồi… nhậu với cha cô. Không khí bàn nhậu thường làm tâm hồn người ta chùng lại, đôi khi nói với khoảng không, nói mà như không nói, … Trong những khoảng khắc đó, cô có thể bắt gặp được cha cô. Chữ “nhậu” ở đây mà hiểu theo nghĩa cụng ly chan chát, thì buồn chết.

Tôi không có duyên để gặp cha con ông họa sĩ lần thứ hai. Chẳng biết bây giờ họ ra sao. Nếu gặp lại, có thể tôi vẫn nhận ra ông. Ông không thể già hơn được nữa. Còn cô gái, bây giờ cũng xấp xỉ 50, nếp nhăn trên khóe mắt, và còn biết bao biến đổi khác. Chỉ một lần gặp, rồi ba mươi năm trôi qua, làm sao có thể nhớ được khuôn mặt. Nhưng nếu gặp nhau ở quán rượu, chỉ cần bắt gặp ánh mắt của cô nhìn cha, có thể tôi sẽ nhận ra. Đó là ánh mắt xót xa thương cảm vô bờ, rõ ràng là ánh mắt của người mẹ, không phải của đứa con. Chắc chắn tôi sẽ nhận ra.

Vũ Thế Thành

.