“Tinh túy tâm linh (spiritual essence) co, dãn (expands and contracts) và trong cái quá trình co dãn này phần tinh túy tâm linh làm cho phần vật thể (matter) trở thành tinh tế hơn, trước khi nó trở về với phần cội nguồn (source). Quá trình co-dãn tinh vi này (subtle process) được người trần gian mệnh danh là Tái Sinh (reincarnation). Nhờ quá trình tái sinh (reincarnation process) mà phần vong linh (spirit) trong trạng thái vật thể (matter) được mang trở về lại với trạng thái trinh nguyên.

By Đàm Trung Phán

Nguồn : khoahocnet.com

.

MỘT QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ

II- 1. VONG LINH VÀ VẬT THỂ (Spirit and matter)

“Để chúng ta có thể hiểu được đời người bắt đầu như thế nào, đời người được chia ra 2 giai đoạn. Chúng ta có thể xét đoán nó qua thể khí (Etheric) và qua thể hữu hình (physical). Dĩ nhiên là khi thể khí bắt đầu thì chưa có phần hữu hình. Trước hết, xin phân tích qua phần tinh túy (Essence) của con người. Phần tinh túy này do phần tâm linh chủ động.

Vong linh là tinh túy (the spirit is the essence), là đốm lửa của thân thể Thượng Đế (sparks of God’s body), là những hạt điện tử của Ngài (his electrons). Các vong linh không có hình thù và được tạo ra bởi ánh sáng trinh nguyên (pure light). Vong linh mang theo phần kiến thức của thời nguyên thủy (knowledge from the origins). Nó được phát sinh từ cội nguồn (the source) và ta có thể ví nó giống như một loại trung tâm điểm của hệ thống luân xa trong cơ thể con người (solar plexus Chakra of God).

Nói theo cách Khoa học nguyên tử, “vong linh” (spiritual level) rất là tinh vi (subtle level) và vòng này không có phần giao động về năng lượng (energetic vibration). Như vậy có nghĩa là nó không có phần tỷ trọng liên quan tới năng lượng hay thể khí (energetic or ethetic density). Nó là ánh sáng thuần nhất (pure white). Ánh sáng trinh nguyên này dãn ra (expand) trong vũ trụ và khi nó đông đặc lại (condenses), nó trở thành phân tử (molecules) – một loại năng lượng thu gọn (compact energy). Khi nó thu gọn lại thì phần vật thể (matter) được tạo tác. Do sự hỗn mang (chaos) của các chất rắn (densities) bắt đầu thành hình trong những nơi va chạm của vũ trụ (cosmic wall), mệnh danh là thời/ hiện tượng Hỗn Mang (chaos). Các vong linh ( spirits) được sinh ra (are born) với hai chức năng (functions): – làm cho phần thể rắn (dense) trở thành ánh sáng trinh nguyên và – gom góp lại những trải nghiệm (experience) trong vũ trụ để tìm hiểu (understand) những gì đã học được để rồi cải biến (allowing) chúng trở thành một Thượng Đế mới.

“Tinh túy tâm linh (spiritual essence) co, dãn (expands and contracts) và trong cái quá trình co dãn này phần tinh túy tâm linh làm cho phần vật thể (matter) trở thành tinh tế hơn, trước khi nó trở về với phần cội nguồn (source). Quá trình co-dãn tinh vi này (subtle process) được người trần gian mệnh danh là Tái Sinh (reincarnation). Nhờ quá trình tái sinh (reincarnation process) mà phần vong linh (spirit) trong trạng thái vật thể (matter) được mang trở về lại với trạng thái trinh nguyên.

Chúng ta phải phá bỏ ý tưởng rằng phần vật thể nó không trinh nguyên (impure) và phần tâm linh/vong linh trở về cội nguồn (source). Thực ra phần vật thể cũng trinh nguyên và phần linh (spirit) được sinh ra đời để mà trợ giúp phần vật thể (matter) sẽ trở lại thành ánh sáng/thể nhẹ (light) một lần nữa. Diễn biến này được mệnh danh là “mang Trời về Đất và mang Ánh sáng về Trời” (bring the sky to earth and give back the light to the sky). Câu này mô tả đời sống của người trần gian. Quá trình Tái Sinh / Luân Hồi (reincarnation) bó buộc con người phải diễn biến (evolve) bởi vì rằng đây là phần hòa nhập (integration) của mọi vật (all things). Vì vậy mà linh hồn (souls, vong linh của người còn sống = vong linh + thân thể hữu hình) và vong linh (spirit, linh hồn của người chết = vong linh + không có thân xác hữu hình) – nói đúng ra, vong linh – cần phải thấu hiểu mọi sự trong vũ trụ để mà chính nó sẽ trở thành một vũ trụ. Tất cả các vong linh phải được tái sinh. Làm sao mà tái sinh? Tái sinh qua một thể sinh lực dầy đặc hơn (dense energy) mệnh danh là linh hồn. Linh hồn là một phương tiện rắn đặc nhất của vong linh. (Thân thể con người) gồm có nhiều loại năng lượng khác nhau (different energies); nó dầy đặc (dense) vì nó không còn ở trạng thái ánh sáng trinh nguyên nữa (pure white). Phần quan trọng của thân thể là Hệ Thống Luân xa (chakras) gồm có: chân, mông, ruột, tim, cuống họng, con mắt thứ ba và đỉnh đầu. Đây là những tuyến năng lượng (energetic glands) giúp cho phần vong linh nối tiếp (connect) với phần thể đặc (phần vật thể). Mỗi luân xa (chakra) giao tiếp (correspond) với mỗi tuyến huyệt (gland) của thân thể. Linh hồn được cấu tạo trong những tế bào mà chúng ta được biết là Thượng Đế. Linh hồn là phần tích lũy trong thể “Ether” (Etheric accumulating) và phần tích lũy này có thể rung chuyển rất nhanh (vibrating) tùy theo từng đẳng cấp của vật thể (level of the matter). Nhờ vậy mà ánh sáng trinh nguyên có thể di động vào tới phần vật thể này để mà tiến hóa (evolve). Nhờ quá trình này mà mỗi một vong linh , cho dù nó là một phần nhỏ bé của khối toàn năng (the totality), nhưng nó cũng biến hóa (evolve) và hiểu biết được sự hiện hữu trong một chúng sinh (existence in the being) mà chúng ta mệnh danh là Thượng Đế (God); sinh tồn để mà trở thành một Thượng Đế khác nữa.

Tiến trình tiến hóa này là do kết quả của những gì đã xảy ra trong vũ trụ, trong mọi lãnh vực, trong mỗi cõi [hay (thế) giới, tiếng Anh là “each dimension”] của vũ trụ. Ngay trong lúc này, chúng ta đang sống qua cõi thứ ba (third dimension) và chúng ta đang có những kinh nghiệm sống trong cõi thứ ba. Sở dĩ chúng ta có được những kinh nghiệm này là do sự cấu tạo trong vũ trụ của vật thể (matter) và sự mục nát của nó (decomposition of matter).

Sự tàn hủy của vật thể đã để lại những kinh nghiệm trong vũ trụ được mệnh danh là thời gian hủy diệt (deterioration time). Thời gian là yếu tố (essence) làm hủy diệt vật thể (matter), vì vậy mà chiều thời gian chỉ hiện diện trong thế giới hữu hình (physical world) mà thôi. Kinh nghiệm này có thể kéo dài từ vài năm cho tới hàng ngàn năm, tùy theo từng linh hồn, từng vong hồn cần phải học hỏi cùng với nhau”.

II-2. LỊCH TRÌNH TIẾN HÓA (Evolution)

“Lịch trình tiến hóa ghi lại những gì mà linh hồn và những đấng tu hành (Spiritual Beings) đã phải tu luyện trong các cõi hữu hình (physical worlds). Chúng ta đã phải trải qua nhiều giai đoạn để trở thành con người trong kiếp này. Tuy có nhiều kiếp nhân sinh khác nhau (incarnations) nhưng chúng ta biết rõ kiếp người trần gian nhất.

Thật ra thì các kiếp nhân sinh bắt đầu từ các thể cấp năng lượng (energetic levels). Thoạt đầu vong linh (spirit) phải luyện tập phần năng lượng và được sinh ra để trở thành linh hồn (soul). Vong linh phải làm quen với các hình thức của linh hồn và phải luyện tập để biết cách điều khiển linh hồn của chúng sinh. Sau đó, nó bắt đầu đời sống dưới dạng phân tử (molecule) trong thể khí (gas level).

Ghi chú của Metias De Stefano

Năng lượng (energy):

 Khi còn là vong linh, con người đang luyện tập trong thể nhẹ nhất (least dense) để được sinh ra (incarnate) rồi sau đó tập làm quen (adaption) để trở thành linh hồn (soul).

 • Thể khí (Gas):

 Hiện tượng đông đặc (densification of things) giúp chúng ta hiểu được sự chuyển vận trôi chẩy của phần vật chất hữu hình (fluidity of physical things) trong những môi trường đông đặc.

 • Khoáng chất (Minerals):

 Thể rắn nhất của vật thể giúp cho chúng ta hiểu biết chất rắn nặng nhẹ ra sao và giúp chúng ta biết những phần giới hạn của thân xác chúng ta trong cõi hữu hình.

 • Thực vật (Plants):

 Thực vật giúp chúng ta hiểu được sự chuyển vận (channelling) thần tình của ánh sáng và những gì mà nó đã gắn chặt (anchorage) trên trái đất. Mỗi ngày chúng ta cần phải tiếp tục giữ gìn hiện tượng quang hợp (photosynthesis; dùng ánh sáng mặt trời, khí carbonic – carbon dioxide – và lá cây để làm thức ăn cho cây cối) và thực thi hiện tượng này trong đời sống hàng ngày của chúng ta.

 • Sinh vật (Animals)

 Sinh vật (being animals) giúp chúng ta hiểu được: – cách vận chuyển và điều khiển cơ thể của chúng ta, – cách thi hành công việc, – linh tính (instinct), – sự tương giao (interaction) và trao đổi tư tưởng (communication) với các chúng sinh khác (beings; không những với loài người mà còn với các sinh vật khác nữa)

 • Sinh vật có lý trí (Rational animals):

 Các sinh vật có lý trí giúp ta hiểu biết các vấn đề về tâm linh (spirituality), – thiền quán qua những trò chơi giải trí, – văn hóa, và – tình gia đình.

 • Người trần gian (human beings):

 Cuối cùng, người trần gian chúng ta, qua 70 kiếp (lives) có thời giờ để mà học hỏi về sự hợp kết giữa Trời và Đất (unification between Earth and Sky) sau khi chúng ta đã suy ngẫm rất nhiều về những điều mà chúng ta đã học hỏi được. Đây là đẳng cấp cuối cùng của cõi Hữu Hình (Physical level), cùng với những gì đến từ các hành tinh khác (extraterrestrial, không phải là hữu hình)

 • Các thiên thần (Angels) và chúng sinh (Beings) trong cõi/giới thứ 7 (Seven Dimension)

 Trong cõi này (level), có sự thay đổi trong tiến trình biến hóa (evolution).

 Trong cõi này, các vị Thiên Thần và chúng sinh làm việc để giúp đỡ cho các thế giới hữu hình (physical worlds), họ dùng kinh nghiệm của chính họ để dìu dắt cho các chúng sinh có thân xác hữu hình (physical density).

 Sau cõi thứ 7 là một cấp (cõi) khác tiến hóa trong môi trường “ether”- có nghĩa là các chúng sinh sau khi đã hóa thân qua các tầng lớp hữu hình sẽ được sinh vào (incarnate) các cấp/cõi “ether” (etheric levels) và họ có hào quang chiếu sáng (illuminate) phần vật thể (matter) của họ và họ có thể tiến lên qua phần vật thể (ascend through matter).

 Khi họ thăng tiến như vậy, họ trải nghiệm qua một quá trình tiến hóa mới bởi vì rằng “thân xác” của họ bây giờ đã trở thành ánh sáng. Nhiệm vụ của họ bây giờ là để giúp cho những người đang sống ở các cấp dưới, tạm coi như chúng ta giúp đỡ những người ở cấp dưới thấu hiểu được các diễn trình trở thành ánh sáng từ thể vật. Vài thí dụ về các Tiên Thiên: Chúa Jesus, Đức Phật Thích Ca, Đức Mohammed và rất nhiều người khác trong cõi Trần không nổi danh trong xã hội loài người. Các vị Tiên Thiên này vẫn còn tiếp tục tu tập cho tới khi họ lên đến “cõi thứ 15”, sau khi họ đã thu nhận và xử dụng được phần tinh hoa của tất cả các cấp (cõi, giới, tầng lớp) khác nhau để mà hoàn toàn am tường và xử dụng được phần tinh hoa toàn diện này (Essence). Tôi đã mô tả tất cả những quá trình này trong những bài viết mà tôi mệnh danh là “Ánh Linh” (Lumina).

 “Ánh linh” có nghĩa là ‘Thể Khí Toàn Năng’ (Etheric level par excellence) hay ‘Ánh sáng Trinh nguyên’ (pure light). Thật khó mà mô tả các diễn trình này trên giấy bút được bởi vì rằng trong đẳng cấp tiến trình mà chúng ta đang sống (our evolution level), chúng ta không hề biết gì về các diễn trình này hết. Tôi chỉ có thể nói rằng (các đẳng cấp, các diễn trình) đều là có thật nhưng chúng ta cũng không nên quá quan tâm về điều này.]]

II-3- CÕI/(Thế)GIớI/CẤP/CHIỀU HƯỚNG (The Dimensions)

  1. “Cõi/Giới thứ 1 (The First Dimension) mà chúng ta biết là khởi điểm; chúng là những đốm sáng (dots of light) mà chúng ta nhìn thấy trong bầu trời, được mệnh danh là ”Prana” – có nghĩa là những điểm ánh sáng đã tạo dựng ra vạn vật (all things).
  2. Cõi thứ 2 là sự chiếu sáng của những đốm sáng này. Thí dụ như những gì mà ta thấy được ở trong cõi thứ 2 này chỉ là những hình bóng (shadows) mà thôi. Rồi phần hình bóng này được tăng trưởng bề ngang và tạo ra những làn sóng rung (vibration) trong cõi thứ 3 (third dimension) với độ sâu (depth) và đây là phần không gian mà chúng ta đang sinh sống dựa theo phần hình học của chúng ta. Cõi thứ 2 (the second dimension) có thể được hiểu theo các hình vẽ (drawings) phần số học (numerology), phần toán học (mathematical level) và
  3. Cõi thứ 3 có thể được coi như là phần hình học (geometry).
  4. Cõi thứ 4 (được hiểu) như là phần hình học thiêng liêng (sacred geometry), có nghĩa là phần hình học được áp dụng trong cõi rung động ở tần số rất cao (vibratory level). Đây chính là lúc mà vật thể (matter) bắt đầu có khái niệm rằng không có thời gian hay không gian; tất cả mọi việc đang diễn biến chỉ là tại ngay đây và ngay bây giở (here and now).
  5. Cõi thứ 5 còn đi xa hơn phần hình học thiêng liêng bởi vì rằng (chúng sinh trong cõi này) hiểu được phần tinh hoa (essence) của Cõi Hình Học Thiêng Liêng. Nhờ vậy, chúng ta hiểu biết được rằng mỗi khối hình học (geometric block) tạo nên một khối khác để tạo ra một chúng sinh (a Being) có nghĩa là mỗi chúng sinh trong chúng ta lại tạo ra một chúng sinh khác. Tuy nhiên trong cõi thứ 3, chúng ta phải hiểu rằng hay ít ra cũng phải cho rằng (having a theory) chúng ta chưa có thể hội nhập (assimilation) được với Cõi Trời.
  6. Cõi thứ 6 là Cõi cho rằng phần toàn năng của tất cả mọi sự vật đang hiện hữu (the totality of existing things) đang ở trạng thái hòa nhập với nhau (integration level). Làm sao mà hiểu được như vậy? Trong cõi thứ 6, việc gì cũng có thể làm được. Đây là một Cõi mà chúng sinh có thể tự tạo sự thật và tự tạo ra các hình thể được (geometry).
  7. Cõi thứ 7 là Cõi hòa nhập (integration) của các hình thể (geometry) trong ánh sáng trinh nguyên. Đây là nơi mà các chúng sinh không còn có mặt mũi nữa (Beings lose their faces) để trở thành những người hướng dẫn (guides) và họ đang vào Cõi Christic, tức là Cõi có những tần số (vibration) rung động thật cao – lên đến tận cõi thứ 10.

Trong các cõi này có các tổ tiên của vũ trụ (cosmic Fathers) và các vị tiên thiên từ các hành tinh Pleiades đang sinh sống. Các vị này là những chúng sinh có thể đi từ cõi này sang cõi khác rất dễ dàng. Trong các cõi này, họ có thể hiện hình (visible) trong cõi thứ 3 và cõi thứ 9. Trí óc con người không thể hiểu được các cõi này. Lấy một thí dụ: trong cõi thứ 11, mọi thứ di chuyển xung quanh nhau giống như những bào thai vậy. Trong vũ trụ, nói một cách nho nhã thì các chỉ thị (orders), nhận định (judgements), các thiên tiên (archanpels), các vị tiên (seraphs), các vị trợ nguyền (guides) và nhiều chúng sinh thượng đẳng (Beings from high dimensions) đều hành xử như các chính trị gia vậy. Họ là những người cai quản các thường dân (people) trong các thế giới (worlds), giúp đỡ dân chúng trong các dịch vụ an sinh xã hội, cai quản nền kinh tế (direct their economy) và cho phép dân chúng tha hồ mà học hỏi. Họ đi từ thế giới này sang thế giới khác để giúp các xã hội và diễn trình sinh hoạt của từng xã hội.

Tuy xem ra có vẻ có tầng lớp, có đẳng trật (hierachies), nhưng các vị tiên chức này không hẳn là những vị có oai quyền. Được ở trên cõi cao hơn không có nghĩa là họ có quyền thế hơn. Chỉ có nghĩa là họ đang ở một vị thế rung động khác (cao) hơn mà thôi. Có nhiều các sinh linh trong Cõi thứ 15 mà còn phải học nhiều thứ của Cõi thứ 3. Có nghĩa là họ chưa được hoàn toàn hòa nhập. Cũng chẳng có nghĩa là họ cao siêu hơn. Chỉ có nghĩa là họ khác nhau mà thôi. Trong vũ trụ, các cấp được xếp theo đẳng cấp thứ tự (dimension hierarchy) – chỉ là vì do chiều giao động tần số khác nhau mà thôi, với mục tiêu là để làm các phận sự riêng rẽ trong vũ trụ. Thật ra thì các chúng sinh đều ở trong cùng một cõi / cùng một đẳng cấp (same level). Có nghĩa là nơi mà hai bàn tay tôi đang giơ ra (khi nói chuyện với quý vị), tất cả các cõi (all the dimensions) đang cùng sinh hoạt cùng một lúc. Chỉ có phần nhận thức của tôi (my conscience) mới cho tôi thấy cõi / chiều thứ 3 (third dimension). Và bây giờ chúng ta đang bước sang (projecting into) (thế) giới / cõi thứ 4 (the fourth dimension). Nhờ vậy mà chúng ta thấy hào quang (aura) và năng lượng xung quanh nhiều thứ (around things). Chẳng có nghĩa là sẽ tốt hơn hay xấu hơn.

Trên cõi trời (sky), nền kinh tế là năng lượng. Phần này được hiểu như là phần di động uyển chuyển của năng lượng và thông tin (fluidity of energy and information): – phần trao đổi của những tinh hoa (exchange of essences), – luật nghiệp chướng (karmic agreements), – phần vay mượn của lịch sử, – sự trao đổi của năng lượng. Tất cả các sự trao đổi này rất là cao siêu, siêu đẳng không thể tưởng tượng được (imperceptible).

Các sinh linh trong Cõi Trời (light Beings) đặt ra nền kinh tế cho các thế giới hữu hình (physical worlds), nhờ vậy mà các linh hồn (người trần gian) có thể di động (move around) và sinh tồn (survive) bằng cách trao đổi những thứ cần thiết trong đời sống hàng ngày, để mà tạo sự cân bằng (balance) giữa phần cho và phần nhận (Giving and Receiving). Tất cả các hệ thống năng lượng đều có mặt trong toàn cõi không gian vũ trụ. Nếu ai cho (thứ gì), người đó sẽ được nhận (thứ khác) ngay tức thì. Chính trị và kinh tế có tính chất di động (motion). Trong thế giới hữu hình, chính trị và kinh tế bị chi phối và bị lạc lối trong môi trường rắn đặc của người đời (density) và bị người đời có ý nghĩ xấu và đen tối về kinh tế và chính trị bởi chúng ta có quan niệm: tốt và xấu.

II-4. TỐT VÀ XẤU (Good and Bad)

“Cái gì mà chúng ta quan niệm là ‘dở/ xấu/ ác độc’ (evil) thì thực ra nó chẳng phải là ‘dở/ xấu/ độc ác’. Lối suy luận này có thể còn đi theo lên đến cõi 18 luôn. Điều đó không có nghĩa là xấu, là độc ác mà nó chỉ là một cách hành xử, một tiến trình mà thôi. Ánh sáng (Thượng Đế) vận chuyển rất tự do (freedom), rất tự chủ (self control), muốn làm gì thì làm (free will), được nâng đỡ (support) và được có rất nhiều thời giờ để mà hành xử (lot of time for the process).

Ngược lại ‘điều xấu’ hay là ‘Bóng tối’ (Darkness) – tạm dịch là ‘Vô Minh’ – là một diễn biến (way of evolving) đưa đến cái mà chúng ta gọi là hạn chót” (deadline) – hạn chót rất nhanh chóng (quick deadline): con người phải học cho xong trong vòng 1 năm, nếu không, sẽ nhận hậu quả xấu.

.

Ghi chú của tác giả Matias De Staphano:

.

 Bóng tối (Darkness), tạm dịch là ‘Vô Minh’, có thể ví như trí khôn (Wisdom) của loài người với những đặc tính như: hạn hẹp (limitations), thử nghiệm (test sets), quyết đoán (determination), lầm lẫn (confusion), ngắn ngủi (short term)

 Ánh sáng (Light), tạm dịch là ‘Minh Thông’, có thể ví như tình yêu thương (Love) , có tính cách ‘Thượng Đế’, chứa đựng cái ‘Tâm’ trong Phật Giáo (ghi chú của dịch giả) với những đặc tính như : tự do (freedom), tự chủ (self control), tự ý (free will), trợ giúp (support), dài hạn (long term)

 Đây là một phương cách tiến hóa (process to evolve) nhưng mà vì nhân loại hiểu mọi sự vật qua quan điểm xấu – tốt, cho nên quá trình tiến hóa không được con người trần gian thực sự am tường cho lắm. Sở dĩ quá trình tiến hóa nhân loại thường xảy ra quá vội vã và nhanh chóng, chỉ là vì con người trần gian cứ tự ý lựa chọn phần tiến hóa theo cách suy nghĩ riêng của họ mà thôi.”

Đàm Trung Phán

Giáo Sư Công Chánh Hồi Hưu

Mississauga, Canada

Jan.29, 2012