“Nhưng có một điều lạ, tôi thấy ảnh đang nói chuyện với cái ly, ảnh là binh chủng Nhảy Dù, ảnh để cái nón nhảy dù trên cái bàn, mặc áo nhảy dù đàng hoàng, ảnh đang uống và đang buồn, đang nhớ bạn. Một ly ảnh uống, một ly ảnh cúng, ảnh rót bia vào cái ly cúng đó, rồi ảnh nói chuyện với cái ly như có người bạn trước mặt ảnh vậy, ảnh cằn nhằn, ảnh đau đớn cho người bạn của ảnh đã mất, . Khi tôi dòm thấy được cái hình ảnh mà ảnh vừa nói vừa gục đầu xuống bàn, vừa khổ sở với cái ly đó, ảnh vừa uống vừa cúng…”

posted by VTT

Phỏng vấn Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu về bức tượng Tiếc Thương

Nguồn : trích từ Asia Video 36, Chủ đề: Lính

Một trong những người mà Lê Xuân Trường mời quý vị theo dõi buổi nói chuyện hôm nay, anh là một Ðiêu Khắc Gia, người đã để lại bức tượng nặng 10 tấn, cao hơn sáu thước taị Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, nghĩa trang nơi hàng ngàn người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm im trong giấc ngủ ngàn thu vẫn chưa được tìm thấy những giây phút thật thanh bình. Thưa quý vị, Ðiêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, tác giả của bức tượng TIẾC THƯƠNG:

LXT: Thưa anh Thu. Trước đây ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, mình có Nghĩa Trang nào trước đó?

NTT: Ðể trả lời anh Xuân Trường. Sỡ dĩ mà Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa nó được hình thành sau Nghĩa Trang ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp, trước đó chưa có Nghĩa trang Biên Hòa chỉ có Nghĩa trang Hạnh Thông Tây Gò Vấp . Qua cái năm đó, vụ năm 68 vừa xong thì Mỹ đổ thêm quân tham chiến , một cuộc chiến ác liệt, cho nên, lúc bây giờ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây đã không có chỗ còn để chôn nữa, cho nên chính phủ mới thành lập Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa.

LXT: Sau khi đề án Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa được thành lập ra để giao cái Nghĩa trang Hạnh Thông Tây quá chật chỗ, không còn đất để chôn cất nữa.Vậy ai là người đưa ra cái đề án đó?

NTT: Dạ, cám ơn anh XuânTrường. Nguyên nhân là, lúc đó, Tổng Thống VNCH, ông Nguyễn Văn Thiệu, ổng có biết là ở bên Phi Luật Tân có một nghĩa trang mà Phi nó tự cao lắm, tự hào lắm, nghĩa trang đẹp nhất ở Á Châu. TổngThống mới mời tôi lên để nói tôi qua đó nghiên cứu có cái gì bên đó để về thành lập Nghĩa Trang Biên Hòa của mình. Tôi được đi qua nghiên cứu cái nghĩa trang đó. Khi trở về, tôi trình dự án đó cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Từ đó, dự án được bắt đầu đưa qua cho Công Binh thực hiện, ủi đất để xây cất, đất đang ủi, đang làm xa lộ ở đó.

Lúc bấy giờ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có mời tôi lên, ổng có cho tôi biết, ổng có ý muốn là làm thế nào để thực hiện một tác phẩm gì đó ở Nhgĩa Trang Biên Hòa. Từ xa lộ đi vô trong có một khúc lộ, ổng muốn đặt trước Nghĩa trang, trước khi vô trong, phải có tác phẩm gì đó. Ổng kêu tôi về suy nghĩ để thực hiện cái tác phẩm nầy. Lúc bây giờ, tôi muốn xin ý Tổng Thống một lần nữa, Tổng Thống cho biết cái ý nghĩa, quan trọng là cái ý nghĩa như thế nào. Tổng Thống trả lời với tôi, TổngThống nói: “ Theo tôi thì mình làm thế nào để hậu phương biết cám ơn chiến sĩ của mình mà họ đã chết chóc ngoài chiến trường”.

LXT: Như vậy, Tổng Thống muốn có một bức tượng đặt ở Nghĩa trang để vinh danh, đặt ở ngoài cổng?

NTT: Dạ. Sau nầy, ổng hỏi khi nào có thể trình dự án được. Tôi có trình lại với Tổng Thống, Tổng Thống cho tôi suy nghĩ một tuần lễ, tôi sẽ trình dự án như Tổng Thống muốn. Lúc đầu, ông Tổng Thống mới bấm chuông, ông Ðại tá Cầm bước vô, Tổng Thống nói: “Ông Thu có hứa với tôi là khoảng một tuần lễ ổng sẽ trình dự án”. Sau nầy ra về, ổng có vỗ vai tôi và nói: “Anh là cục nhưn đó nghe, nghĩa trang của mình có cục nhưn, anh làm thế nào , tôi hy vọng ở anh đó nghe”. Tôi ra về.

Công việc đầu tiên nằm trong trứng nước, trong bụng tôi, nó bào bào, cái ý nầy, ý kia, nói đi nói lại, tự hỏi lòng mình tìm đề tài.Trong thời gian đó, tôi hứa với Tổng Thống một tuần lễ, từ thứ hai đến thứ sáu. Tôi nhớ rõ lắm.

LXT: Trong một tuần lễ, anh có nghĩ là anh sẽ kịp để tìm đề tài?

LXT: Ðó! Ðó! Ðã hứa rồi, trong cái tuần lễ đó, công việc gì cũng bỏ hết, mình không có làm chi hết. Tôi nghĩ, tìm cái đề tài gì đây? Tác phẩm gì đây? Lúc bấy giờ, Nghĩa trang Biên Hòa đang ủi đất, đang thành lập chứ có gì đâu? Tôi mới đi lên Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Lúc bấy giờ, chiến trường đang ác liệt, trực thăng nó xuống ào ào, chiều nào trực thăng cũng đem xác về, đến nỗi mà trong nhà kho xác, rồi một dãy hòm hai ba chục cái đang sắp ngang đó.

LXT: Không có đất để chôn phải không ạ?

NTT: Có đất chôn nhưng cũng gần hết đất rồi nhưng mà xác nhiều đến nỗi trong mấy cái hòm ướp xác, rồi mấy cái hòm đang để dài dài, rồi mấy cái đang chôn nhiều đến nỗi phải làm tạm lều ra ngoài, cất lều, che sơ sơ để chất xác cho trực thăng mỗi chiều nó xuống. Tôi ở đó được ngày thứ hai đến thứ sáu, cảnh chết chóc thì quý vị đã biết, ngày nào cũng khóc la, rồi con cái, vợ nữa, ôm nấm mồ khóc thiêùt tha trên nấm mồ, cảnh đau thương lắm. Tôi ở đó được sáu ngày như vậy, khi ở được sáu ngày rồi , ngày mai nữa là hết ngày, đến ngày phải trình Tổng Thống, cho nên đến buổi trưa thứ sáu, đây là câu chuyện thật, tôi cứ nôn nóng như vậy.Trưa thứ sáu thì tôi từ nghĩa trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, tôi về Gò Vấp. Ở vùng Gò Vấp, nắng quá, tôi mới vô kiếm nước uống. Tôi quẹo đại vào một cái quán gần căn phố. Vô tình , tôi kêu một ly nước chanh uống, bỗng nhiên, tôi thấy một anh lính Nhảy Dù, ảnh vô đó từ trước, ảnh cũng từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây về trước đó. Khi tôi bước vô thì tôi dòm qua ảnh, thấy ảnh đã uống đâu bốn năm chai bia rồi, thì thôi, tôi cũng không nói gì. Nhưng có một điều lạ, tôi thấy ảnh đang nói chuyện với cái ly, ảnh là binh chủng Nhảy Dù, ảnh để cái nón nhảy dù trên cái bàn, mặc áo nhảy dù đàng hoàng, ảnh đang uống và đang buồn, đang nhớ bạn. Một ly ảnh uống, một ly ảnh cúng, ảnh rót bia vào cái ly cúng đó, rồi ảnh nói chuyện với cái ly như có người bạn trước mặt ảnh vậy, ảnh cằn nhằn, ảnh đau đớn cho người bạn của ảnh đã mất, . Khi tôi dòm thấy được cái hình ảnh mà ảnh vừa nói vừa gục đầu xuống bàn, vừa khổ sở với cái ly đó, ảnh vừa uống vừa cúng. Tôi chờ một chút nữa rồi bước qua làm quen. Tôi cầm cái ly nước chanh, bước qua, tôi đứng kề ảnh, bên cái bàn của ảnh, tôi xin phép ảnh:

-Anh à, tôi muốn ngồi kề với anh, uống với anh được không? Thấy anh buồn, tôi muốn ngồi với anh.

Tôi thấy ảnh không trả lời tui, ảnh ngồi gục trên cái bàn, ảnh hất cái mặt lên, có vẻ như không bằng lòng khi có người thứ hai quấy rầy ảnh.

LXT: Có thể cái giây phút đó, ảnh quá đau lòng, ảnh muốn có một sự riêng tư?

NTT: Dạ đúng! Ảnh muốn có một sự riêng tư. Mặt tôi hơi sượng, mấy cô trong quầy cười khúc khích, nãy giờ, cái anh nầy nói chuyện với cái ly không, mà bây giờ có thêm một thằng điên qua nói chuyên với ảnh, mấy cô chắc nghĩ như vậy, thấy mấy cô cười khúc khích với nhau. Nhưng mà trời thương, tôi có hỏi giấy tờ của ảnh, ảnh gục cái đầu xuống, tôi đứng trơ trẽn ở đó. Bỗng nhiên, ảnh móc ở túi sau, ảnh móc giấy tờ, ảnh đưa cho tôi. Tôi đâu có phải Quân Cảnh mà hỏi giấy tờ của ảnh, thế mà ảnh đưa cho tôi. Tôi cầm cái bóp rồi trở về cái bàn của tôi, tôi lấy giấy tờ ra hết. Tôi ghi tên của ảnh, ảnh là Võ Văn Hai, hạ sĩ Võ Văn Hai, tôi nhớ rõ như vậy. Ở tiểu đoàn nào tôi quên rồi, tôi ghi hết cái KBC. Xong rồi, tôi đem cái giấy đến trả lại, ảnh cũng không cần biết nữa, lấy bỏ túi thôi, không nhìn tôi mà. Tôi trở về bàn, tôi ngồi để nhìn một chút xíu nữa. Rồi, tôi thấy câu chuyện nó như vậy.

Trưa đó tôi về, dĩ nhiên là ảnh còn ngồi đó, tôi lo đi về, tên tuổi của ảnh tôi còn để đây. Tôi về đến nhà.

Khuya hôm đó, tức là tối thứ sáu, tôi bắt đầu vẽ, để sáng thứ bảy trình. Thưa, tối thứ sáu, khi tôi ngồi lại cái bàn, từ 8 giờ tối cho đến 6 giờ sáng , tôi vẽ được 7 bản, bảy bản bự như vầy, vẽ màu đẹp lắm. Lúc bấy giờ, thưa quý vị, khi tôi ngồi ban đêm đó, tôi mới liên tưởng đến chiền trường. Dạ thưa, lúc bây giờ chiến trường, đêm đêm, tiếng súng nó dội về, ầm… ầm , mấy cái cửa kiến rung hết, B52 bay thả bom, cửa kiến ở nhà rung… rung. Rồi mưa tháng tám nữa, mưa lất phất… lất phất ở ngoài đó, cũng đau lắm, tôi ngồi thấy cũng thấm lắm, ngồi nghe mấy tàu lá chuối, nước nó rơi, rồi ầm..ầm. ..rồi ầm…ầm, B52 rót rầm…rầm… rầm…rầm. Thế mà, nó cũng gợi cho tôi, để cho tôi vẽ chiến trường. Dạ thưa, tôi vẽ 7 bản to như thế nầy, vẽ về chiến trường, chiến trường lúc bấy giờ thì người lính mặc áo mưa, cũng thê thảm lắm, gió lất phất, rồi kia, nọ…, người lính đi tới đi lui, lo nhiệm vụ canh gác trong đêm trường cực khổ, ở sau hậu phương, người ta êm ấm như thế nầy mà ở chiến trường thì nó như vậy. Tôi nhớ đến người lính, tôi mới vẽ 7 bản ở chiến trường, một đề tài nhớ chiến trường, vẽ chiến trường. Tôi vẽ như vậy cho tới sáng, tôi nhớ cái gì chút đỉnh thì tôi vẽ tới đó, có ý gì ngộ ngộ nẩy ra thì tôi ghi lại để sáng mai trình với ổng, ghi sơ sơ lên đây. Tôi vẽ tới sáng, cho tới 6 giờ sáng. Tôi vẽ được 7 bản xong rồi, tôi thấy mệt, trời lạnh lạnh nữa, tôi buông cọ ra, mới lủi vô giường nằm. Nằm một chút xíu thì nghe một tiếng chó sủa ào một cái, nhà tôi nuôi chó cỏ nhiều lắm, anh Trường. Mấy con chó sủa ào lên một cái, tôi hay quạu lắm, tôi kêu: “Bà làm gì đàng trước vậy? Ai đàng trước vậy? Gì đàng trước vậy?”. Bà xã tôi nghe chó sủa là bả lo, bả ra trước rồi, bả coi cái gì đây? Một chặp, khoảng vài phút sau, bả vô nói: “Có người đến mời ông đi trình dự án”. Tôi mới nói, trình dự án gì mà mới mờ mờ đất mà dự án…dự án. Tôi nói vậy mà ông ở ngoài đó nghe, rồi ổng trả lời lớn: “Tôi vô sớm ông Thu! Tôi vô sớm mời ông đi ăn sáng, rồi mình đi lên trển”, cuối cùng, tôi đi với ảnh.

Giờ đầu tiên gặp Tổng Thống, Tổng Thống Thiệu đó, lúc bấy giờ đang ở trong Bộ Tổng Tham Mưu, ổng mang lon Trung tướng. Ngày đầu tiên tôi hẹn với ổng, sau một tuần lễ, đi trình, tôi nghĩ ổng ở Tổng Tham Mưu chứ đâu. Thế nhưng, ông nầy, ổng đưa tôi đi Sài Gòn ăn sáng ở nhà hàng gì đó, đả đời, rồi 9 giờ, ổng mới bắt đầu đi, lên xe jeep, ổng chở đi vô dinh Gia Long. Tôi hỏi, quẹo vô đây chi vậy? Tôi nhà quê lắm! “Vô đây ông Thu, vô đây không sao, cũng được vậy thôi”. Ông ta nói vậy. Rồi vô dinh Gia Long, ổng trình cho Ðại tá Cầm, ông Cầm, ổng nói liền: “Ông Thu ơi! Bữa nay không có anh là chết tui, tôi chờ anh đầu giờ, bây giờ trễ một, hai phút. Giờ có ông Thiếu tướng, ổng vô trước, đáng lẽ anh đầu giờ nhưng có Thiếu tướng vô trước, chút xíu ổng ra, tới anh đó”. Lúc đầu, Ðại tá còn lịch sự hỏi nầy no., dự án, anh có ưng ý không? Vì lịch sư, hỏi qua, hỏi lại vậy thôi. Tôi ngồi đó, còn Ðại tá cũng làm việc của ổng.

Tôi đứng dậy, tôi ra ngoài hành lang, ở dinh Gia Long có cái couloir dài, có hàng ghế đỏ, có mấy cây cột xưa của mình. Tôi đi qua, đi lại, rồi tôi ngồi xuống. Tại sao vậy? Ðó, rồi mình tự hỏi, tại sao mình lại vẽ chiến trường, 7 bản chiến trường. Thôi, bây giờ mình không vẽ chiến trường, mình vẽ anh Võ Văn Hai được không? Rồi mình tự hỏi, vẽ thế nào? Võ Văn Hai phải như thế nào? Tôi ngồi xuống, tôi bố cục, tôi nheo con mắt lại, tôi hình dung trong trí não của tôi đàng hoàng. Tôi nghĩ đến thế người ngồi, ngồi ra làm sao, làm sao? Tôi vẽ trong trí tôi, tôi đứng dậy, tôi chạy vô, lúc nầy tôi tập trung cái đó rồi, tôi tập trung cái bố cục rồi, mà ai hỏi tôi chắc là chết.

Tôi chạy vội vô phòng của ông Ðại tá Cầm, thấy phòng nó nghiêm nghị quá, mình muốn hỏi xin tờ giấy ghi liền mấy cái nét mình suy nghĩ, giống như con khỉ vậy, tôi móc đại tờ giấy pelure , rồi xin cây viết nguyên tử. Tôi ngó phía sau lưng của ổng, có thùng rác, trong quân đội có giỏ rác bằng lưới, trong có bao thuốc lá, tôi lấy bao thuốc ra và mở ra. Tôi trở lại cái hành lang, tôi banh bao thuốc lá ra, có miếng giấy trắng ở trong, tôi mới vẽ xuống, vẽ cái bố cục mà mình mới nghĩ ra.

Lúc đó, nó khiến tôi như thế nào không biết, tôi vẽ xuống, tôi thấy tôi ưng ý, mình đã vẽ 7 bảy bản ghê gướm, vậy mà cái nầy vẽ sơ sơ, vẽ tốc họa, sao mình thấy khoái khoái. Vừa khoái khoái, bỗng nhiên chưa có quyết định gì, ông Ðại tá, ổng hỏi: “Anh Thu đâu rồi? Anh Thu đâu rồi? Ðây rồi! Ðây rồi. Anh vô. Anh vô”.

Tôi vô, dĩ nhiên cái bao thuốc lá tôi cầm ở trên tay và 7 bản kia, tôi ôm kè kè đi vô. Vô chào Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu đang ngồi, kính chào Tổng Thống rồi thôi. Tôi trải 7 bản dưới sàn dinh. Tôi trải xong, tôi cầm bao thuốc lá nầy chạy qua kính mời TổngThống qua duyệt xét, Tổng Thống góp ý, có cái gì, bổ túc ý kiến của Tổng Thống, tôi vẽ như vầy đó, tôi vẽ 7 bản chiến trường.

Ổng bước ra coi, tôi đệm nhẹ vô, chiến trường là nơi gió táp mưa sa, chiến sĩ mình phải canh gác cực khổ thế nầy, thế nọ, đêm đêm, ngày ngày, ở hậu phương thì ngủ êm ấm, công ơn chiến sĩ mình, làm sao mà quên ơn được. Thế là, tôi nói chuyện với ổng, ổng làm thinh, ổng ngồi ổng nghe, rồi ổng qua coi. Khi đó, lúc bấy giờ tôi làm thinh. Tổng Thống đi qua, đi lại vài lần nữa. Rồi ổng đứng lại sát bên tôi, ổng có nói một câu dễ thương lắm, ổng nói: “Bây giờ thế nầy nè, tôi nghĩ anh là cha đẻ của nó. Tôi thì muốn chọn một bản, tôi thấy bản nầy tôi cũng thích, mà bản kia nữa tôi cũng thích, vậy theo anh, anh thích bản nào. Tôi thấy bản thứ hai nầy cũng được, mà bản thứ năm nầy cũng hay đó. Anh thích bản nào?”.

Ổng hỏi vậy, thì tôi xin phép, tôi nói thế nầy: “Dạ, kính thưa Tổng Thống, tôi không dám, nếu Tổng Thống cho tôi chọn lại theo ý tôi, mới đây thôi, cái nầy, tôi hơi quá vô lễ. Da., tôi mới vừa nghĩ ra, tôi vẽ vội trên bao thuốc lá, tôi làm như vậy hóa ra tôi quá vô lễ với Tổng Thống”.

Tổng Thống nói: “Không. Không. Anh đưa tôi coi”. Tôi lấy bao thuốc lá ra đưa cho ổng, Tôi chỉ vẽ thế ngồi thôi. Thưa Tổng Thống, tôi thích cái nầy. Tôi nói vậy. Ổng cầm bao thuốc lá, ổng kéo tôi tới bureau của ổng, hai ghế chụm lại. Ổng dặn tôi câu nầy: “Anh Thu à! Người nghệ sĩ mà, họ lãng mạng lắm, họ hay lãng mang lắm, mà chiến sĩ của mình không phải thế đâu, phải có đề tài, mà anh vẽ cái đề tài gì đây? Anh cho tôi biết cái đề tài, lãng mạng không nên có trong cái tác phẩm nầy”.

Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ ra được những đề tài như thế nầy: thứ nhất:: KHÓC BẠN, thứ hai: TÌNH ÐỒNG ÐỘI, thứ ba: NHỚ NHUNG, thứ tư: THƯƠNG TIẾC hay TIẾC THƯƠNG.

Tổng Thống nói: “NHỚ NHUNG là không được! Không được, thứ tư là THƯƠNG TIẾC, TIẾC THƯƠNG. Ừ, TIẾC THƯƠNG THƯƠNG TIÊC đi”.

Rồi Tổng Thống nói tôi về, ổng còn dặn tôi: “Anh nhớ người lính của mình đó, là buồn, là tiếc thương bạn mình nhưng cũng phải tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu, không có quên tay súng, cây súng phải giữ, chứ không phải vứt súng bừa bãi. Cái buồn nầy, phải tiếp tục chiến đấu, Việt cọng nó trường kỳ lắm, nó mai phục dữ lắm, mình phải có cái lâu dài đó. À, anh Thu ơi! Anh có thể vẽ riêng cái nầy cho tôi được không? Vẽ lớn cái nầy như 7 bản kia vậy đó”ù.

Tôi trả lời: Dạ được. Dạ được.

Khi đó, ông Ðại tá Cầm bước vô. Bây giờ ổng đưa bao thuốc lá cho tôi. Tổng Thống nói với ông Cầm: “Anh chuẩn bị những vật liệu cho anh Thu, ảnh vẽ gấp cho tôi cái nầy”. Ông Cầm trở ra. Ông tướng còn ngồi ở đó, ổng thấy câu chuyện lạ lạ, ổng nán lại xem có cái vụ gì?

Ông Cầm hỏi:”Anh cần gì?”.Tôi nói: “Anh cho tôi tờ giấy lớn như vậy đó, với cái bảng đen, giấy bút, có màu gì bỏ ra hết đây”. Ổng cho người ùn ùn đem đồ ra đó ngồi vẽ.

Thưa, lúc bấy giờ, tôi mới bắt đầu, bắt đầu ra tay, tôi day lại, thấy những người đứng xung quanh tôi đông lắm. Tôi nói:  “Kính thưa Thiếu tướng, Ðại tá, quý vị, trong khi tôi vẽ, xin đừng có ai hỏi tôi hết. Tôi vẽ, quý vị hỏi, tôi phân tâm, tôi không trả lời thì đâm ra vô lễ. Xin cho tôi tập trung ở đây, đừng hỏi”.

Thưa quý vị, dĩ nhiên là người nghệ sĩ nào cầm cây vẽ cũng ngắm tờ giấy trắng trước, cho nó lọt vô, cái bao thuốc lá, nó phải lọt vô tờ giấy, phải vẽ sao cho nó lọt vô, mà phải vẽ gấp rút. Tôi vẽ….vẽ….Tôi lo làm. Lúc bấy giờ như nó khiến, thưa quý vị, bấy giờ, tôi không biết là tôi vẽ hay là cái gì vẽ (cười). Tôi không hiểu được, tôi phá tới đâu, tôi vẽ tới đâu, nó dính ngay tới đó, nó lọt trọn vô tờ giấy rất đẹp, giống như mình vẽ hai ba ngày trước! Ðó, tôi phóng lên những nét đại cương là quý rồi, tạo được cái hình ảnh là chiến sĩ ngồi. Lúc bây giờ tôi mới day ra phía sau, tôi thấy mọi người đang đứng quanh tôi. Ông Cầm hỏi liền:

-Anh cần gì, anh nói chứ làm sao tôi biết được!.

-Dạ thưa Ðại tá, tôi cần người mẫu. Cái nét đại cương tôi có rồi, bố cục đầy đủ rồi, tôi muốn vô chi tiết chút xíu, cái nét áo nhăn, cái nét quần nữa, chút xíu nữa cho nó trung thực”

"Bức tượng gần xong rồi, chỉ còn nét buồn nữa thôi...".Nghiệt thay! Đó là nét buồn thiên thu...

Rồi ổng ngó ngó, ai cũng hơi ngờ ngợ, không biết ai. Ổng nói: “Tôi được không?”. Trời ơi! Lính gì ngoài chiến trường mà áo quần ủi hồ ngon lành, tóc tém rồi chải…” Tôi nghĩ vậy. Ổng mặc áo quần đẹp lắm, áo quần ủi hồ láng thẳng đẹp đẽ. – “Thôi, thôi, tôi làm rồi, Ðại tá cho tôi cây súng”.

Thưa quý vị, bấy giờ là năm 1966, lính mình còn xài súng garant M1. Ổng mang súng ống vô, nịt đạn, bi- đông nước đàng hoàng, coi như tác phẩm bây giờ đang chiếu đó,đội nón sắt nữa, rồi ổng ngồi xuống đó. Ổng là người mẫu đầu tiên, tôi lấy mẫu đai cương đó. Khi ổng ngồi xong, khoảng năm phút sau thôi, tôi ghi thêm vài nét, chính tôi đã đi hết 85% rồi, tôi chỉ thêm vài nét cho nó rõ, giữa hai cái đó, trung thực không cách xa bao nhiêu. Tôi thấy được rồi. Khi tôi vẽ lớn ra xong, tôi trình Tổng Thống, Tổng Thống đã ký cho tôi xong hết.

Dĩ nhiên, khi trở về tôi phải lo, nhứt là thời gian phải cho kịp, còn ba tháng nữa là đến ngày1 tháng 11 năm 66. Ổng ký là tháng 8 rồi. Tôi phải lo gấp rút người mẫu, kiếm Võ Văn Hai. Thưa quý vị, địa chỉ tôi đã ghi rồi lúc ở ngoài quán đó, tôi có kể.

Tôi lại ngay đơn vị của ảnh, được gặp ông Thiếu tá Chỉ huy trưởng của anh Võ Văn Hai, tôi trình bày cho ổng. Trước khi đi đâu, tôi cũng mang theo mẫu mà Tổng Thống ký cho tôi. Rồi ổng coi, lúc đầu, Thiếu tá còn hơi lo, nghi nghi, ngờ ngợ. Thế nhưng, sau câu chuyện rồi, ổng thấy, có lẽ ổng hãnh diện được chọn cái đơn vị của ổng, trong tiểu đoàn của ổng, trong đại đội của ổng. Ý ổng, ổng có nói một hai câu như vậy. Do đó, ổng có nói như thế nầy:

– Ổng yêu cầu gặp anh Võ Văn Hai, tôi thấy chưa hay đâu, tôi nói thật với anh, tôi cho anh một đại đội, mặc sức mà chọn, nhiều thằng một thước bảy, một thước tám mươi mấy, thước chín, mề-đay đầy người, to lắm,chiến công dữ dằn lắm.

Tôi nói: “Dạ thưa Thiếu tá, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai, thật sự là đủ rồi”.

-Á! Á! Ðừng cãi tôi! Tôi sẽ cho một đại đội đó.

Ổng nói rồi, ổng làm luôn, ổng kêu một Thượng sĩ bước qua:

-Anh cho tập họp một Ðại đội, Ðại đội súng ống đàng hoàng , ngay ở Bộ chỉ huy của tôi, nhé!

Ổng truyền lịnh đi rồi, lâu lâu, thỉnh thoảng ổng mới coi lại chữ ký của Tổng Thống, rồi ổng nói vô chi tiết nữa để chờ Ðại đội kia dẫn lên.

Thưa quý vị, khi đó thì nghe đàng trước rần rần, ê ét đàng trước rần rần rồi. Tôi thấy Ðại đội ra trình diện ở trước. Ông thượng sị bước vô:

-Thưa Thiếu tá, Ðại đội tập họp xong. Ổng bước ra, cầm cái can, đội nón nhảy dù, ổng nói:

-Anh theo tôi, tha hồ anh chọn, to lắm, to lắm, đủ màu, đen đỏ, có đủ hết, Võ Văn Hai, ăn thua gì! Anh ra đây, kìa…kìa…

Lẽ dĩ nhiên, tôi bước ra, người to con thì đứng đầu , ở cuối thì nhỏ và thấp. Tôi thấy dữ dằn thiệt.

-Người nầy là một thước tám mươi mấy đó, dữ dằn nữa, Võ Văn Hai ăn nhằm gì”.

Ổng vừa nói, ông Thiếu tá biểu một anh bước ra, anh bự con bước ra, qua người thứ hai cũng bự con nữa.

Tôi làm thinh, bây giờ tôi mới sực nhớ ra, tôi vội bỏ ông Thiếu tá ở đó, tôi chạy lùn lùn xuống hàng, tôi kêu:

-Anh VõVăn Hai đâu? Anh Võ Văn Hai đâu? Lên tiếng, lên tiếng!

Cuối cùng tôi chạy xuống hàng gần cuối, ảnh đâu có 1mét 6 à! Ảnh nói:

-Em đây! Em đây!

Tôi lôi ảnh ra ngoài hàng. Ổng chọn được bốn người, anh Võ Văn Hai nữa là năm.

Thôi, thôi! Thiếu tá!, Ðủ rồi! Ðủ rồi! Tôi la lên.

-Chọn nữa không? Chọn bao nhiêu thì chọn. Tôi cho anh mà! Bây giờ anh nói chuyện cho mấy người nầy biết đi, tất cả năm người đó.

Ðại đội dẫn về, tôi mời mấy anh nầy vào câu lạc bộ, biểu mấy anh về cất súng đi. Tôi có nói với mấy ảnh như thế nầy:

-Thật sự, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, nhưng ông Thiếu tá, ổng tốt bụng cho thêm bốn anh nữa. Thôi mấy anh về nghỉ đi, cứ nghỉ ba tháng nhưng đừng ra ngoài đường, đừng mặc đồ lính, Quân Cảnh nó bắt, tôi không có thì giờ đi lãnh về. Cứ một tuần lễ, tôi ký giấy phép cho mấy anh.

Thế rồi, ngày ngày anh Võ Văn Hai cứ vô nhà tôi làm mẫu.

LXT: Tại sao cái hình ảnh anh Võ Văn Hai cứ in trong tâm khảm của anh, phải là Võ Văn Hai. Có phải vì Võ Văn Hai ngồi trong quán nước khóc thương người bạn mà làm cho anh xúc động?

NTT: Ðó,  chính cái lẽ đó, chính cái yếu tố quan trọng đó, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, vì lịch sư, ổng cho bao nhiêu thì cho, cứ để đó cho nghỉ phép luôn, lợi dụng cái dịp nầy để mấy ảnh khỏi ra chiến trường.

LXT: Anh Võ Văn Hai lúc đó ở binh chũng Nhảy Dù?

NTT: Dạ, Nhảy Dù, hạ sĩ. Anh về nhà tôi, hàng ngày, cứ sáng sáng, ảnh đạp xe đạp vô nhà, đồ lính cất trong nhà, rồi nịt đạn vô hết, lên ngồi làm người mẫu. Chúng tôi làm như vậy, anh em chúng tôi làm việc, công việc làm như vậy đêm ngày. Lúc bấy giờ anh Võ Văn Hai cứ lo săn sóc tôi không à, ảnh không phải như hồi trước, nhưng mà tôi chỉ cần ảnh không cần tới tôi mà ảnh chỉ nghĩ tới người bạn, thương buồn, để nhớ thôi. Một buổi nọ, tượng gần xong, tôi làm một cú lẩy, anh Võ Văn Hai vẫn vô bình thường, tôi nói với ảnh:

-Anh lấy ghế nồi đàng hoàng nghe! Bữa nay tôi theo dõi thêm, tôi so sánh giữa anh và bức tượng chút xíu nữa.

Anh Võ Văn Hai ngồi, lúc bấy giờ tôi không có làm, những ngày trước thì tôi làm nhưng bữa nay tôi để ảnh ngồi không. Dĩ nhiên, khi ảnh ngồi không đó, ảnh chờ tôi. Tôi vô trong nhà, tôi dòm qua lỗ gió, tôi dòm lén ra, khi chờ lâu thì ảnh ngồi mới nhớ lại, hoàn toàn trở lại hồi cũ ở quán nước, nét mặt ảnh buồn như trước. Khi ảnh buồn thật sự, trong nầy tôi lấy cây viết chì với miếng giấy tôi ghi, tôi chỉ ghi nét mặt thôi, nó rủ xuống thế nào, tôi vẽ như thế ấy, tôi vẽ cái môi, cái miệng, cái mũi thôi. Sau ba tháng ảnh ngồi làm mẫu, bây giờ thêm cái chi tiết nầy, cái nét buồn nào nó đi tới. Xong rồi, tôi bước ra, tôi nói với ảnh:

-Xong rồi! Xong rồi! Anh về nghỉ đi, vài ba bữa vô cũng được, anh muốn nghỉ giờ nào thì nghỉ, giờ nào muốn vô thì vô, không bắt buột, được rồi, đủ rồi, nhe!.

Anh Võ Văn Hai lấy làm lạ, ảnh nói:

-Tôi chưa làm mà Ðại úy nói tôi nghỉ.

Tôi trả lời:

– Làm rồi! !àm rồi! Tôi vẽ lén anh mà.

Thế thì ảnh về, ảnh còn thắc mắc, đi ra sau hè, nói với bà xã tôi: “Thưa bà, tôi thấy ổng không làm, không biết ổng giận tôi cái gì mà ổng nói tôi về, đừng có vô nữa cũng được”.

Bà xã tôi nói lại: “Ờ, cái ông đó, ổng biểu sao hay vậy, không có giận anh đâu. Anh Hai cứ nghỉ tự nhiên”. Rồi ảnh ra về.

Thưa quý vi, khi ảnh về, bức tượng đã gần xong rồi, chỉ còn cái nét buồn nữa thôi. Khoảng ba giờ khuya, tôi sáng tác 3 tháng trời, tôi lao đao lận đận lắm, ăn uống không yên, ngủ không được, trong bụng cứ bào bào, cứ nhớ lại hình ảnh Võ Văn Hai buồn. Tôi ngủ được chút xíu, bây giờ là ba giờ khuya, cái nét buồn tôi ghi lại buổi sáng. Lúc bấy giờ tôi tắt đèn hết, tôi cầm cây đèn cầy, đồ đạc tôi chuẩn bị hết rồi, để trên cao hết rồi. Ðêm khuya, không có gì bằng đêm khuya vắng vẻ. Thưa quý vị, mình nói với cái tượng đó, khi mình cầm cây đèn cầy để tìm ánh sáng, cây đèn cầy dễ lắm, khi tôi cầm cây đèn bên nay thì ánh sáng bên nay tạt qua, và khi tôi cần ánh sáng bên kia thì tôi cầm cầy đèn đưa qua bên đó. Tôi đưa lên , đưa xuống…, một tay tôi cầm đèn di chuyển, một tay tôi làm. Ban đêm tôi làm, tôi nhớ, trên cái giàn cao như vậy, lạnh lẽo như vầy, tôi làm tới 6 giờ sáng, lại 6 giờ sáng nữa, tôi thấy đẹp quá, tôi thấy nét mặt của tượng buồn quá, buồn lắm, nhưng mà thôi, tôi đi ngủ.

Nằm chút xíu, trời sáng rồi, đã 8 giờ sáng , ánh mặt trời sắp sửa ló lên. Tôi chạy ra coi có giống như hồi hôm không? Hồi hôm thấy nó buồn, nhưng cũng còn nghi nghi nữa. Thấy y chang như hồi hôm, tôi mừng quá…